Học tập và làm theo phong cách Hồ Chí Minh
Cập nhật lúc 09:23, Thứ Tư, 18/01/2017 (GMT+7)
(LĐ online) -  Phong cách Hồ Chí Minh là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ di sản vô giá mà Người để lại cho dân tộc ta. Đó là một hệ thống chỉnh thể, gắn bó chặt chẽ với nhau, phát triển theo lôgích bao gồm: phong cách tư duy, phong cách diễn đạt, phong cách biểu hiện, phong cách làm việc, phong cách ứng xử, phong cách sinh hoạt hàng ngày. Việc học tập và rèn luyện theo phong cách Hồ Chí Minh, không chỉ là vấn đề mang tính chất lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn vô cùng sâu sắc trong giai đoạn hiện nay.
 
I. NỘI DUNG PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH 
 
1. Phong cách tư duy độc lập, tự chủ và sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh 
 
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập là không lệ thuộc, không bắt chước, theo đuôi, giáo điều. Tự chủ là chủ động suy nghĩ và làm chủ suy nghĩ của mình; tự chịu trách nhiệm trước dân, trước nước; biết làm chủ bản thân và công việc. Còn sáng tạo là vận dụng đúng quy luật chung cho phù hợp với cái riêng, cái đặc thù; là tìm tòi, đề xuất những cái mới để có thể trả lời được những đòi hỏi của cuộc sống đặt ra. Phong cách tư duy Hồ Chí Minh được thể hiện ở những nét đặc trưng, đó là:
 
Thứ nhất, phong cách tư duy khoa học, cách mạng và hiện đại của Hồ Chí Minh được hình thành từ lòng yêu nước, từ mục đích tìm đường cứu nước và trong quá trình hoạt động của Người. Hồ Chí Minh không tiếp thu một cách thụ động, không dừng lại hiện tượng bề ngoài, mà có thói quen đi sâu phân tích, so sánh, chắt lọc, lựa chọn, tổng hợp, rút ra những phán đoán, đi tới những kết luận mới, đề ra những luận điểm mới; vừa kế thừa, vừa phát triển sáng tạo để tiếp tục vượt lên phía trước. Nhờ đó, Người đã bắt kịp nhịp sống và sự phát triển của thời đại, hình thành được một tư duy đúng đắn, khoa học và cách mạng, để có thể lựa chọn đúng đường đi cho dân tộc và dự kiến được những bước phát triển mới của lịch sử.
 
Hai là, phong cách tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo; không giáo điều, rập khuôn, không vay mượn nguyên xi của người khác, hết sức tránh lối cũ, đường mòn; tự mình tìm tòi, suy nghĩ, truy đến tận cùng bản chất của sự vật, hiện tượng để tìm ra chân lý, phù hợp với nhu cầu và điều kiện thực tiễn. 
 
Ba là, phong cách tư duy hài hòa, uyển chuyển, có lý có tình; luôn biết xuất phát từ cái chung, cái nhân loại, từ những chân lý phổ biến, những "lẽ phải không ai chối cãi được” để nhận thức và lý giải những vấn đề của thực tiễn đặt ra. Để đàm phán, thuyết phục đối phương đi tới đồng thuận, Người thường lập luận trên cơ sở nguyên tắc về tính đồng nhất của nguyên lý. Người viết: “Quyền độc lập, tự do ở nước nào cũng vậy, đều do xương máu của những nghĩa sĩ và đoàn kết của toàn quốc dân mà xây dựng nên”. 
 
Để đạt được những kết quả đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định phải tư duy trên những cứ liệu thực tế của Việt Nam; đồng thời, biết tiếp thu, kế thừa những di sản quý báu của văn hoá nhân loại, các học thuyết một cách có phê phán, chọn lọc, không sao chép máy móc, cũng không phủ định một cách giản đơn, mà có sự phân tích sâu sắc để tìm ra những yếu tố tích cực. Nhờ đó, Người đã làm giàu vốn trí tuệ của mình bằng những di sản quý báu của văn hoá nhân loại. Phong cách tư duy của Hồ Chí Minh còn là sự gắn bó giữa ý chí, tình cảm cách mạng với tri thức khoa học; luôn có sự kết hợp hài hoà giữa yếu tố cảm xúc, tình cảm với yếu tố trí tuệ, tri thức, kinh nghiệm, trong đó, yếu tố tri thức, trí tuệ là quan trọng nhất.
 
Nhờ phong cách tư duy đó, Hồ Chí Minh đã phát hiện ra quy luật của cách mạng Việt Nam, sáng tạo ra con đường và phương pháp tiến hành cách mạng phù hợp với thực tiễn của đất nước; lãnh đạo Đảng và dân tộc Việt Nam từ một nước lạc hậu, kinh tế kém phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chủ nghĩa tư bản trong điều kiện thế giới đầy biến động. Cái mới, cái sáng tạo của Bác là vừa phù hợp với yêu cầu của cách mạng Việt Nam, vừa phù hợp với quy luật phát triển chung của xã hội loài người. 
 
2. Phong cách diễn đạt Hồ Chí Minh là sự kết hợp hài hòa cái dân gian, đời thường với cái hàn lâm, bác học, cái cổ điển truyền thống với cái hiện đại, giữa duy tình phương Đông với duy lý phương Tây và nhất quán trong diễn đạt. 
 
Hồ Chí Minh đã sử dụng ngôn ngữ như một vũ khí đấu tranh cho độc lập dân tộc và công cụ giao tiếp giữa người với người để chỉ ra lẽ phải; tuyên truyền và tổ chức nhân dân, soi sáng ý nghĩ và cảm hóa tấm lòng của người đọc, người nghe.
 
Cách viết, cách nói của Hồ Chí Minh đề ra là sự lựa chọn thích hợp để trả lời bốn câu hỏi cơ bản do Người đề ra trùng hợp với những câu hỏi của ngôn ngữ học hiện đại; đó là: Viết và nói để làm gì? (mục tiêu), viết và nói cho ai? (đối tượng), viết và nói cái gì? (nội dung), viết và nói thế nào? (phương pháp). Trả lời đúng bốn câu hỏi đó là vô cùng khó, đòi hỏi rất cao về trình độ, năng lực, phẩm chất và phong cách tư duy. 
 
Phong cách diễn đạt Hồ Chí Minh có những đặc điểm nổi bật, đó là: (i) Cách nói, cách viết giản dị, cụ thể, thiết thực, gần gũi, dễ hiểu với tất cả mọi người; (ii) Diễn đạt ngắn gọn, cô đọng, hàm súc, trong sáng và sinh động, có lượng thông tin cao, do đó dễ thuộc, dễ nhớ, nhanh chóng đi vào quần chúng, hướng dẫn họ hành động; (iii) Sinh động, gần gũi với cách nghĩ, cách cảm của quần chúng, gắn với những hình ảnh, ví von, so sánh cụ thể…; (iv) Cách diễn đạt luôn luôn biến hóa, nhất quán mà đa dạng, phong phú, phù hợp với nội dung được trình bày…
 
Tuy nhiên, theo quan điểm của Hồ Chí Minh, không phải nhất thiết cái gì cũng ngắn mới tốt, mà mục đích của việc nói ngắn, viết ngắn là để chữa cái bệnh “nói dài, viết rỗng”, tức là tùy thuộc điều kiện hoàn cảnh, đối tượng cụ thể quy định nói, viết ngắn hay dài, nhưng phải có nội dung. 
 
Theo Hồ Chí Minh, “cách nói của dân chúng rất đầy đủ, rất hoạt bát, rất thiết thực, mà lại rất giản đơn”8; do đó trước hết “phải học cách nói của quần chúng, mới nói lọt tai quần chúng”9. Người căn dặn cán bộ tuyên truyền: “Đặc điểm rõ nhất trong tư tưởng của dân chúng là họ hay so sánh... Phải đem cách nhân dân so sánh, xem xét, giải quyết các vấn đề, mà hóa nó thành cách chỉ đạo nhân dân”. 
 
Để viết và nói được trong sáng, giản dị, dễ hiểu, Bác Hồ còn chỉ ra rằng phải chống lại căn bệnh hay nói chữ, ham dùng chữ, bệnh sính dùng chữ nước ngoài. Tất nhiên, Người không tuyệt đối hóa việc mượn dùng chữ nước ngoài mà đối với những chữ đã quen thuộc, đã “hoá thành chữ ta” mà không dùng thì không đúng. Bác Hồ nêu ví dụ: Ta nói “độc lập” chứ không nói “đứng một”, nói “du kích” chứ không nói “đánh chơi” (đánh ăn trộm)… 
 
Phong cách diễn đạt của Hồ Chí Minh là bài học quý giá đối với tất cả mọi người, nhất là những người trực tiếp làm công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục lý luận cho đại chúng.
 
3. Phong cách làm việc của Hồ Chí Minh là: nói đi đôi với làm, tác phong quần chúng, tác phong tập thể, dân chủ và tác phong khoa học.
 
Trước hết là phong cách nói đi đôi với làm, một trong những nét nổi bật trong phong cách làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người là tấm gương sáng về nói đi đôi với làm cho mọi người học tập và làm theo. Hồ Chí Minh đặc biệt lưu ý, đối với nhân dân không thể lý luận suông, chính trị suông, nhân dân cần trông thấy lợi ích thiết thực từ những tấm gương sáng, những việc làm thiết thực của cán bộ. Đối với tổ chức đảng, Người chỉ rõ: “Đảng phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã thi hành thế nào. Nếu không vậy thì những nghị quyết và chỉ thị đó sẽ hóa ra lời nói suông mà còn hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng”. 
 
Theo Hồ Chí Minh, phong cách làm việc nói đi đôi với làm nhất là đối với người đứng đầu, có ảnh hưởng lớn đến việc nâng cao chất lượng lãnh đạo và uy tín của Đảng, Nhà nước, đến mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân cũng như việc hoàn thiện nhân cách người cán bộ, đảng viên và phát huy vai trò của các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể. Trong tình hình hiện nay, việc đổi mới phong cách làm việc theo tư tưởng và tấm gương về phong cách làm việc của Hồ Chí Minh nói đi đôi với làm là vấn đề cấp thiết.
 
Thứ hai, là phong cách quần chúng, chú ý tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng và quan tâm thật lòng đến mọi mặt đời sống của quần chúng; tin dân, tôn trọng dân, lắng nghe và giải quyết những kiến nghị chính đáng của dân; tiếp thu ý kiến của dân để sửa chữa khuyết điểm; giáo dục, lãnh đạo quần chúng, đồng thời không ngừng học hỏi quần chúng, tôn trọng quyền làm chủ của quần chúng,... Người kịch liệt phê phán những cán bộ quan liêu, “Miệng thì nói dân chủ, nhưng làm việc thì họ theo lối “quan” chủ.
 
Thứ ba, phong cách làm việc tập thể và dân chủ, gắn bó với tập thể, tôn trọng tập thể. Phát huy sức mạnh của tập thể là phương châm chỉ đạo suy nghĩ và hành động của Hồ Chí Minh. Bác luôn luôn tranh thủ, trân trọng ý kiến của mọi người, không phân biệt chức vụ, cấp bậc, đẳng cấp...
 
Thứ tư, phong cách làm việc khoa học, quý trọng thời gian, giờ nào việc ấy; làm việc phải có mục đích rõ ràng; chương trình, kế hoạch đặt ra phải phù hợp. Hồ Chí Minh giải thích: “Đích nghĩa là nhằm vào đó mà bắn. Nhiều đích quá thì loạn mắt, không bắn trúng đích nào”. Người phê phán những cán bộ vạch ra “Chương trình công tác thì quá rộng rãi mà kém thiết thực”. Người chỉ rõ, để vạch kế hoạch một cách thực sự khoa học, người cán bộ phải “xét kỹ hoàn cảnh mà sắp đặt công việc cho đúng. Việc chính, việc gấp thì làm trước. Không nên luộm thuộm, không có kế hoạch, gặp việc nào, làm việc ấy, thành thử việc nào cũng là việc chính, lộn xộn, không có ngăn nắp”. Với ý nghĩa đó, Người yêu cầu cán bộ: chủ trương một, biện pháp mười, quyết tâm phải hai, ba mươi; nghĩa là sau khi đã có kế hoạch công tác phải có quyết tâm thực hiện và phải thực hiện đến nơi đến chốn, không được đánh trống bỏ dùi. Đặc biệt, Người đã nhiều lần phê bình bệnh hữu danh vô thực ở không ít cán bộ…Phong cách làm việc khoa học cũng yêu cầu cán bộ trong bất kỳ công việc gì cũng phải hiểu năng lực của cấp dưới mà bố trí, sử dụng người cho đúng, chớ “dùng thợ mộc làm nghề thợ rèn”; đồng thời sau mỗi một việc cần phải rút kinh nghiệm tận gốc, rồi phổ biến những kinh nghiệm ấy cho tất cả cán bộ và cho dân chúng hiểu… 
 
Thứ năm, phong cách làm việc đúng giờ. Người quý thời gian của mình bao nhiêu thì cũng quý thời gian của người khác bấy nhiêu. Người thường không để ai phải đợi mình, chủ động đến trước nếu có thể...
 
Thứ sáu, phong cách đổi mới, sáng tạo, không chấp nhận lối cũ, đường mòn. Đó là một phong cách không cố chấp, bảo thủ, luôn đổi mới. Người nói: Tư tưởng bảo thủ như là sợi dây cột chân, cột tay người ta… Muốn tiến bộ phải có tinh thần mạnh dạn, dám nghĩ, dám làm. Cuộc đời Người là một tấm gương tuyệt vời về đổi mới, có sức động viên, khích lệ, gởi mở sự đổi mới, sáng tạo cho mỗi chúng ta. 
 
4. Phong cách ứng xử Hồ Chí Minh là cách ứng xử của một người bình thường đạt đến phong cách ứng xử của một nhà hoạt động chính trị chuyên nghiệp và của một nhân cách văn hoá kiệt xuất. Cụ thể là:
 
Thứ nhất, Hồ Chí Minh luôn có phong cách ứng xử khiêm tốn, nhã nhặn, lịch thiệp; không bao giờ đặt mình cao hơn người khác, mà trái lại, luôn hòa nhã, quan tâm chu đáo đến những người chung quanh.
 
Thứ hai, chân tình, nồng hậu, tự nhiên, xóa bỏ mọi nghi thức đã tạo ra một bầu không khí thân mật, thoải mái, thân thiết như trong một gia đình khi gặp gỡ mọi người. Đó là nét nổi bật trong phong cách ứng xử của những nhà văn hóa lớn của mọi thời đại.
 
Thứ ba, linh hoạt, chủ động, biến hóa là phong cách ứng xử văn hóa Hồ Chí Minh đạt tới sự kết hợp hài hòa giữa tình cảm nồng hậu với lý trí sáng suốt, linh hoạt, uyển chuyển, sẵn sàng vì cái lớn mà châm chước cái nhỏ.
 
Thứ năm, vui vẻ, hòa nhã, ngôn từ, cử chỉ thích hợp và đúng đối tượng giao tiếp, cùng với sự hóm hỉnh, năng khiếu hài hước đã xóa đi mọi khoảng cách, những nghi thức trịnh trọng không cần thiết, tạo không khí chan hòa, gần gũi giữa lãnh tụ với quần chúng, giữa những người bạn... 
 
Điều gợi ý sâu sắc từ tư tưởng và thực tiễn sống động Hồ Chí Minh là ở chỗ, văn hóa ứng xử trước hết là văn hóa tự ứng xử; tự trau dồi học vấn để từng bước đạt tới sự trưởng thành văn hóa; rèn luyện đạo đức, đặc biệt là các đức tính để rèn luyện nhân cách; biết hướng thiện và phục thiện là một khởi nguồn quan trọng để mỗi con người tự hoàn thiện nhân cách của chính mình.
 
5. Phong cách lãnh đạo theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là:
 
Thứ nhất, tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; được biểu hiện từ việc lớn cho đến việc nhỏ. Người tuân thủ chặt chẽ quy trình ra quyết định. Mọi vấn đề kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao, khoa học - kỹ thuật…Người đều dựa vào đội ngũ trí thức, chuyên gia trong bộ máy của Đảng và Nhà nước; yêu cầu chuẩn bị kỹ, trao đổi rộng, sao cho mọi chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước phải được cân nhắc, lựa chọn thận trọng, để sau khi ban hành, ít phải thay đổi, bổ sung.
 
Thứ hai, đi đúng đường lối quần chúng,“lắng nghe ý kiến của đảng viên, của nhân dân, của những người “không quan trọng”. Người yêu cầu và luôn thực hiện người lãnh đạo phải tôn trọng nguyên tắc dân chủ, từ dân chủ trong Đảng đến dân chủ trong các cơ quan đại biểu của dân, thực hiện đường lối quần chúng. Người năng đi xuống cơ sở, lắng nghe ý kiến của cấp dưới và của quần chúng, chứ không phải để huấn thị cấp dưới. Theo Người, phải biết động viên, khuyến khích “khiến cho cán bộ cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến”, tức là phải làm cho cấp dưới không sợ nói sự thật và cấp trên không sợ nghe sự thật.
 
Thứ ba, phải tổ chức việc kiểm tra, kiểm soát cho tốt. Theo Hồ Chí Minh, sau khi nghị quyết đã được ban hành, phải tổ chức tốt để nghị quyết đi vào cuộc sống; điều đó gắn liền với công việc kiểm tra, kiểm soát. Muốn tốt, “phải đi tận nơi, xem tận chỗ”. Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về tác phong kiểm tra sâu sát. 
 
Theo tài liệu thống kê của Bảo tàng Hồ Chí Minh, chỉ tính trong vòng 10 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (1955-1965), không quản tuổi cao, công việc bề bộn, Người đã thực hiện hơn 700 lượt đi thăm các địa phương, công trường, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị bộ đội… từ miền núi đến hải đảo, để thăm hỏi chiến sĩ và đồng bào, để xem xét tình hình, kiểm tra công việc. Tính ra mỗi năm, có hơn 60 lượt Người đi xuống cơ sở, mỗi tháng có khoảng 6 lần lãnh tụ gặp gỡ quần chúng. 
 
Thứ tư, Người đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu gương, làm kiểu mẫu trong công tác và lối sống, trong mọi lúc, mọi nơi, nói phải đi đôi với làm để quần chúng noi theo “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Nói đi đôi với làm là một nội dung đạo đức truyền thống của dân tộc được Hồ Chí Minh nêu thành một nội dung của tư cách người cách mạng. Nói đi đôi với làm đối lập với nói mà không làm của những người hứa suông, hoặc “nói một đàng làm một nẻo” của những kẻ cơ hội.
 
6. Phong cách sinh hoạt Hồ Chí Minh
 
Phong cách sinh hoạt Hồ Chí Minh là sự thống nhất hài hòa giữa một con người bình dị và người lãnh tụ thiên tài, nhà văn hóa kiệt xuất, với những nét đặc trưng là: (i) Nhất quán, trước sau như một, không thay đổi trong mọi biến thiên của thời cuộc. (ii) Sống Giản dị, khiêm tốn, trong sáng, thanh cao; cần kiệm, liêm chính cả trong lời nói và việc làm; điều độ, ngăn nắp, yêu lao động, quý trọng thời gian.... (iii) Cách sống hài hòa, nhuần nhuyễn giữa văn hóa Đông –Tây; đó là phong cách sống vừa thấm nhuần văn hóa Nho - Phật - Lão, vừa chịu ảnh hưởng sâu đậm của văn hóa Âu - Mỹ nhưng luôn giữ vững, yêu quý và tự hào về văn hóa Việt Nam. (iv) Tôn trọng quy luật tự nhiên, gắn bó với thiên nhiên. 
 
Trong giai đoạn hiện nay, Để tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh thấm sâu vào cuộc sống; đòi hỏi mỗi tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên và mỗi người dân cần đề cao ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện, thể hiện cụ thể trong suy nghĩ và thực hiện công việc hàng ngày, trong các mối quan hệ …; qua đó, góp phần đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn tham nhũng, tiêu cực, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII của Đảng.
 
II. CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN VÀ NHÂN DÂN RÈN LUYỆN THEO PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 
 
1 Sự cần thiết phải rèn luyện theo phong cách Hồ Chí Minh của cán bộ, đảng viên trong điều kiện hiện nay
 
1.1. Những giá trị bền vững của phong cách Hồ Chí Minh:
 
- Về mặt lý luận: Phong cách Hồ Chí Minh là sự kế thừa, phát triển và kết tinh những giá trị của dân tộc, tinh hoa của loài người mà đỉnh cao là đạo đức, phong cách Mác - Lênin; xác lập một giai đoạn mới trong quá trình phát triển đạo đức và phong cách Việt Nam: Đạo đức và phong cách thời đại Hồ Chí Minh; các gía trị đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh có ý nghĩa phổ biến, mang tầm vóc dân tộc và quốc tế.
 
- Về mặt thực tiễn: Phong cách Hồ Chí Minh định hướng cho việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, phong cách của cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân qua các giai đoạn cách mạng; mang lại các hiệu quả tích cực trong đạo đức, phong cách xã hội; biến thành chương trình hành động của mọi người Việt Nam yêu nước; làm thành các chuẩn mực cho sự đánh giá đạo đức, phong cách lành mạnh của mỗi cá nhân.
 
1.2. Các nhân tố tác động đến sự rèn luyện của cán bộ, đảng viên theo phong  Hồ Chí Minh:
 
- Các nhân tố quốc tế, nhất là xu thế toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế, vừa tạo ra các điều kiện thuận lợi, nhưng lại tạo ra các thách thức rất lớn cho việc tu dưỡng, rèn luyện phong cách, đạo đức.
 
- Các nhân tố trong nước: Những thành tựu của công cuộc đổi mới xác lập các tiền đề vật chất, văn hoá cho sự nâng cao chất lượng tu dưỡng, phấn đấu về phong cách, đạo đức; các nguy cơ, nhất là nguy cơ quan liêu, tham nhũng, tự chuyển biến, tự chuyển hoá trong nội bộ có tác động tiêu cực và hạn chế đến hiệu quả tu dưỡng, rèn luyện phong cách, đạo đức của cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ cao cấp.
 
1.3. Những yêu cầu mới đặt ra đối với việc rèn luyện của cán bộ, đảng viên  theo phong cách Hồ Chí Minh:
 
 - Về mặt khách quan: Yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, hội nhập quốc tế đòi hỏi những giá trị mới về phong cách đạo đức của cán bộ, đảng viên cả trong nhận thức và hành động;
 
 - Về mặt chủ quan: Yêu cầu hoàn thiện nhân cách của người cán bộ lãnh đạo, quản lý trong tình hình mới; yêu cầu xây dựng mẫu người lãnh đạo quản lý phù hợp với nhu cầu dân tộc và xu thế tiến bộ của thời đại; yêu cầu về làm gương của cán bộ nhất là cán bộ lãnh đạo đối với đảng viên và quần chúng nhân dân; yêu cầu về xây dựng nền đạo đức mới.
 
2. Thực trạng rèn luyện của cán bộ, đảng viên theo phong cách Hồ Chí Minh
 
2. 1. Thực trạng:
 
Bên cạnh những chuyển biến tích cực, những kết quả đạt được; tình hình suy thoái, sự xuống cấp về tư tưởng, đạo đức, phong cách sống trong Đảng và trong xã hội không những chưa ngăn chặn có hiệu quả mà còn diễn biến ngày càng phức tạp và có chiều hướng gia tăng. Tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo, quản lý bộc lộ nhiều hạn chế trong phong cách làm việc: nói không đi đôi với làm, nói nhiều làm ít, nói hay làm dở, nói một đằng làm một nẻo… Một số cán bộ, đảng viên, cán bộ giữ vị trí lãnh đạo, quản lý còn có những biểu hiện thiếu tinh thần trách nhiệm, cố ‎ý làm trái các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; quan liêu, chuyên quyền, độc đoán, hống hách với nhân dân… Thực tế này vừa phản ánh phong cách làm việc chưa đáp ứng được yêu cầu mới, vừa phản ánh sự yếu kém về năng lực, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên.
 
Biểu hiện tập trung nhất là chủ nghĩa cá nhân dẫn đến suy thoái đạo đức, lối sống, phong cách, làm suy giảm văn hoá lãnh đạo của Đảng, giảm sút niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội, hạn chế phát huy hiệu quả tích cực của công cuộc đổi mới; làm đảo lộn và biến dạng các giá trị, chuẩn mực xã hội, trong đó có các giá trị truyền thống.
 
2.2. Một số vấn đề đặt ra:
 
- Giải quyết mâu thuẫn giữa suy thoái tư tưởng, đạo đức, sự xuống cấp về phong cách của cán bộ, đảng viên với yêu cầu phát triển đất nước nhanh, bền vững dựa trên bốn “trụ cột” của công cuộc đổi mới: Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm; xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt; xây dựng văn hoá làm nền tảng tinh thần của xã hội; phát huy khối đại đoàn kết dân tộc, động lực của sự phát triển, đang là một thách thức lớn hiện nay.
 
- Tác động của mặt trái của nền kinh tế thị trường, nạn tham nhũng, vấn đề lợi ích nhóm đang tác động tiêu cực đến nhân cách, đạo đức, lối sống, phong cách làm việc, sinh hoạt của cán bộ, đảng viên, nhất là đối ngũ cán cấp cao, cán bộ chủ chốt các cấp, đang cản trở việc thực thi đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng của Đảng, pháp luật của Nhà nước. 
 
- Xây dựng và hoàn thiện bảng thang giá trị về chuẩn mực phong cách, nhất là phong cách lãnh đạo, quản lý làm định hướng lâu dài mang tầm chiến lược cho việc tuyển chọn, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá và sử dụng, bổ nhiệm cán bộ, đặc biệt là cán bộ ở tầm chỉ đạo chiến lược, cán bộ chủ chốt các cấp trong thời gian tới.
 
3. Nội dung và giải pháp rèn luyện của cán bộ, đảng viên theo phong cách Hồ Chí Minh.
 
Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII đã đề ra mục đích cần đạt được trong đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là: (1) Phải tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động trong Đảng, hệ thống chính trị và nhân dân. (2) Việc học tập và làm theo phải trở thành công việc tự giác, thường xuyên của mọi tổ chức, mọi cá nhân; trước hết là của người đứng đầu, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức...
 
3.1. Nội dung chủ yếu:
 
Về nội dung học tập và làm theo Bác, Bộ Chính trị nêu rõ những nội dung về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh mà chúng ta đã từng học trong các nhiệm kỳ Đại hội Đảng khóa IX, khóa X và khóa XI. Ngoài ra, Đại hội XII có bổ sung những vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn trong tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh có liên quan mật thiết với những đòi hỏi của tình hình phát triển đất nước trong bối cảnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế ngày nay. 
 
Nắm vững những nội dung, giá trị vô giá của phong cách Hồ Chí Minh, đó là: Phong cách tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, luôn gắn chặt lý luận với thực tiễn; phong cách làm việc dân chủ, khoa học, kỹ lưỡng, cụ thể, tới nơi, tới chốn, nói đi đôi với làm; phong cách ứng xử văn hóa, khiêm tốn, nhã nhặn, lịch thiệp, tinh tế, đầy tính nhân văn, thấm đậm tinh thần yêu dân, trọng dân, vì dân, gần gũi với cách nghĩ, cách cảm của quần chúng; phong cách nói và viết ngắn gọn, cô đọng, trong sáng và sinh động, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm; phong cách sống thanh cao, trong sáng, giản dị, cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư…
 
3.2. Các giải pháp cụ thể:
 
- Về nhận thức: Nhận thức toàn diện, thấm nhuần sâu sắc vị trí, vai trò, tầm quan trọng của việc học tập và làm theo phong cách, đạo đức Hồ Chí Minh trong đời sống, công tác hiện nay. Khẳng định các giá trị bền vững, sức sống lâu bền và giá trị lan toả, soi đường của di sản phong cách, đạo đức Hồ Chí Minh; khả năng có thể học tập và làm theo được phong cách, đạo đức Hồ Chí Minh trong điều kiện hiện nay để làm giàu văn hoá lãnh đạo, quản lý của Đảng, sự phong phú, đa dạng của nhân cách làm người. Từ đó, thường xuyên tích cực, tự giác tu dưỡng, rèn luyện theo các giá trị chuẩn mực phong cách Hồ Chí Minh.
 
- Về lãnh đạo, chỉ đạo: Cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp, nhất là người đứng đầu cần phát huy vai trò chủ động, sáng tạo trong việc hướng dẫn, xây dựng chương trình, kế hoạch hành động; xác định rõ lộ trình, bước đi, huy động các nguồn lực (tài chính, lao động, trí tuệ...) phục vụ cho việc tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu của cán bộ, đảng viên, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của địa phương, ban ngành, cơ quan, đơn vị.
 
- Về phương pháp, phương châm tổ chức thực hiện: 
 
+ Tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể, cũng như từng cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và mỗi người dân thực hiện các giải pháp một cách đồng bộ, cụ thể, thiết thực; trách phô trương, hình thức trái với phong cách của Bác. Xây dựng chương trình, kế hoạch hành động học tập và làm theo phong cách Hồ Chí Minh phải sát hợp với tình hình của các tổ chức Đảng, chính quyền, cơ quan, đơn vị cụ thể, tránh chung chung và gắn với trách nhiệm của mỗi cá nhân cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức…
 
+ Thường xuyên quan tâm giáo dục lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, đạo đức cách mạng, phong cách công tác, quyền và nghĩa vụ của đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức và người dân, nhất là thế hệ trẻ; thực hành dân chủ rộng rãi, thực hiện nghiêm túc đấu tranh tự phê bình và phê bình; động viên, khuyến khích quần chúng nhân dân phê bình cán bộ, đảng viên. Cán bộ, đảng viên phải nghiêm túc thực chế độ sinh hoạt Đảng; luôn luôn đặt lợi ích của của Đảng và nhân dân lên trên hết, trước hết; gương mẫu trong công việc và trong sinh hoạt; kiên quyết nâng cao đạo đức, phong cách cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân dẫn đến suy thoái nhân cách; đi sâu đi sát thực tế, gần gũi, gắn bó với nhân dân lao động, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; ra sức học tập văn hoá, khoa học - kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ để hoàn thành tốt nhất mọi nhiệm vụ được phân công, đảm nhận. - Thường xuyên kiểm tra, giám sát, đánh giá, tổng kết quá trình tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đảm bảo trên thực tế tính nghiêm minh của kỷ luật Đảng và thành chế độ công tác, sinh hoạt. Công tác thanh tra, kiểm tra phải chặt chẽ, thường xuyên, có hệ thống phù hợp với từng đối tượng, ngành nghề, công việc…
 
+ Việc đánh giá các tổ chức Đảng, cơ quan, đoàn thể và cá nhân cần gắn với kết quả học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh; nêu được những gương người tốt, việc tốt, điển hình tiên tiến; đồng thời cũng chỉ ra những người không tốt, không gương mẫu, suy thoái về đạo đức, phong cách, lối sống để xử lý thật nghiêm; kịp thời tổng kết, đúc rút những bài học kinh nghiệm cả thành công và thất bại để nhân rộng mặt tốt, mặt tích cực, khắc phục, né tránh những mặt chưa tốt, mặt tiêu cực.
 
+ Về những phương châm học tập và làm theo Bác được xác định là: “trên trước, dưới sau”; “trong trước, ngoài sau”; “học đi đôi với làm theo”, chú trọng việc làm theo bằng những hành động và việc làm cụ thể.
 
Trong giai đoạn hiện nay, việc học tập và làm theo phong cách Hồ Chí Minh đòi hỏi mỗi tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cần phải đề cao ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện, thể hiện cụ thể trong suy nghĩ và việc làm hàng ngày; trong quan hệ với nhân dân, đồng chí, đồng nghiệp, góp phần đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn tham nhũng, tiêu cực, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII của Đảng.
 
BAN BIÊN TẬP
,