Chiến thắng Điện Biên Phủ mãi mãi là niềm tự hào của dân tộc
Cập nhật lúc 08:31, Thứ Sáu, 05/05/2017 (GMT+7)
Cách đây 62 năm, dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng và Bác Hồ, quân và dân ta đã chiến đấu anh dũng, kiên cường làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi hoàn toàn. Chiến thắng Điện Biên Phủ mãi mãi là niềm tự hào của mỗi người dân đất Việt và là biểu tượng sáng ngời của sức mạnh chủ nghĩa yêu nước và trí tuệ Việt Nam. 
 
Đến cuối năm 1953, Chiến tranh Đông Dương đã kéo dài 8 năm, quân Pháp lâm vào thế bị động trên chiến trường. Trong khi đó, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thiết lập được quyền kiểm soát vững chắc tại nhiều khu vực rộng lớn ở Tây Nguyên, khu 5, các tỉnh Cao Bắc Lạng... và nhiều khu vực ở đồng bằng Bắc bộ. Nước Pháp hầu như không còn đủ sức chịu đựng gánh nặng chiến tranh Đông Dương và đã phải cầu viện sự trợ giúp của Hoa Kỳ. Nhằm thoát khỏi tình thế bi đát và thay đổi cục diện chiến tranh buộc ta phải chấp nhận thương lượng theo những điều kiện mà chúng đã đặt ra, Tướng Na-va, tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp đã đưa ra kế hoạch tập trung mọi lực lượng để xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương, “một pháo đài khổng lồ không thể công phá” với tổng số binh lực vào lúc cao nhất lên tới 16.200 người. 
 
Về phía ta, Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội Quốc gia và dân quân Việt Nam nhìn nhận trận Điện Biên Phủ như là cơ hội đánh tiêu diệt lớn, tạo chiến thắng vang dội để từ đó chấm dứt kháng chiến trường kỳ và đã chấp nhận thách thức của quân Pháp để tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Đây là trận quyết chiến chiến lược của Quân đội nhân dân Việt Nam. Trung ương Đảng đã hạ quyết tâm: “Tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ để tạo nên một bước ngoặt mới trong chiến tranh, trước khi đế quốc Mỹ can thiệp sâu hơn vào Đông Dương”. 
 
Ngày 6/12/1953, Bộ Chính trị họp và nhận định, đánh Điện Biên Phủ là một trận công kích lớn nhất của quân đội ta từ trước tới nay và có ý nghĩa quân sự, chính trị và ngoại giao rất quan trọng. Trên tinh thần đó, Bộ Chính trị đã quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ, thông qua phương án tác chiến, thành lập Bộ Chỉ huy chiến dịch, Đảng ủy mặt trận do Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy chiến dịch. Chính phủ quyết định thành lập Hội đồng cung cấp mặt trận do đồng chí Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch. Mọi công việc chuẩn bị cho chiến dịch được tiến hành khẩn trương với khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, các đơn vị bộ đội chủ lực nhanh chóng tập kết, bạt rừng, xẻ núi mở đường kéo pháo, xây dựng trận địa, sẵn sàng tiến công địch; dân công, thanh niên xung phong bất chấp bom đạn bảo đảm hậu cần phục vụ chiến dịch. Ngày 13/3/1954, quân ta đã nổ súng mở đầu chiến dịch Điện Biên Phủ. 
 
Sau 56 ngày đêm “ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt. Máu trộn bùn non, gan không núng, chí không mòn”, ngày 7/5/1954, quân và dân ta đã giành thắng lợi hoàn toàn. Tổng số quân địch bị diệt và bắt sống tại Điện Biên Phủ là 16.200 tên; trong đó có Thiếu tướng Đờ-Cat-tơ-ri, 10 đại tá và trung tá, 353 sĩ quan, 57 máy bay bị bắn rơi và phá hủy tại mặt trận... 
 
Chiến thắng Điện Biên Phủ đã khẳng định đường lối kháng chiến “toàn dân, toàn diện, trường kỳ” hết sức đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu và cho thấy sự lớn mạnh, trưởng thành vượt bậc của Quân đội Nhân dân Việt Nam.
 
Chiến thắng Điện Biên Phủ đã buộc Chính phủ Pháp cùng các bên tham dự Hội nghị (trừ Mỹ) phải ký kết Hiệp định Genève, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương ngày 21/7/1954; làm thức tỉnh và cổ vũ, động viên các dân tộc bị áp bức trên thế giới vùng lên đấu tranh giành độc lập, tự do của dân tộc, mở đầu quá trình sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên thế giới. 
 
Chiến thắng Điện Biên Phủ đã mở ra một giai đoạn mới của cách mạng Việt Nam là miền Bắc được giải phóng và quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trở thành căn cứ địa cách mạng rộng lớn, hậu phương vững chắc cho cách mạng miền Nam; nhân dân miền Nam tiếp tục tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Có thể nói, Chiến thắng Điện Biên Phủ là cơ sở để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vững tin, dám đánh, quyết đánh và đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
 
Chiến thắng Điện Biên Phủ mãi mãi là một bản anh hùng ca tuyệt vời về tinh thần và ý chí quyết chiến, quyết thắng; về trí tuệ và bản lĩnh của con người Việt Nam trong đấu tranh cách mạng. Đó là chiến thắng của khát vọng độc lập, tự do, truyền thống yêu nước, đoàn kết và ý chí tự lực tự cường; chiến thắng của tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo của Đảng; chiến thắng của sức mạnh dân tộc và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam đã được kết hợp chặt chẽ với sức mạnh của thời đại tạo nên sức mạnh vô địch. 
 
Chiến thắng Điện Biên Phủ đã chứng minh hùng hồn chân lý: Trong thời đại ngày nay, một nước nhỏ kinh tế chậm phát triển, nhưng có đường lối chính trị, quân sự đúng đắn, sáng suốt, biết phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, được nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới đồng tình ủng hộ thì nhất định sẽ đánh bại bất kỳ kẻ thù xâm lược nào. Chiến thắng Điện Biên Phủ là một trong những đỉnh cao chói lọi trong lịch sử dân tộc.
 
Chiến thắng Điện Biên Phủ góp phần gìn giữ hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới; qua đó, vị thế và uy tín của Việt Nam đã được nâng lên ngang tầm với các nước, các dân tộc trên thế giới. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng đánh giá: “Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là dấu mốc bằng vàng. Đó là thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta, mà cũng là thắng lợi chung của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới”. 
 
Thời gian đã lùi xa, nhưng chiến thắng Điện Biên Phủ mãi mãi là một mốc son lịch sử chói lọi, để lại nhiều bài học lịch sử có ý nghĩa sâu sắc cho nhân dân ta và thế giới. Những bài học đó không những có giá trị trong đấu tranh giải phóng dân tộc mà còn cả trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đó là những bài học về ý chí và niềm tin; biết dựa vào sức mình là chính, đồng thời phải tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của đông đảo bạn bè quốc tế; kế thừa và phát huy chủ nghĩa yêu nước, trí tuệ Việt Nam; xây dựng, củng cố và phát huy đoàn kết toàn dân tộc làm cơ sở cho sự đoàn kết quốc tế…
 
Trong điều kiện hiện nay, khi đất nước đang đứng trước những thời cơ và vận hội mới, đồng thời cũng phải đương đầu với những nguy cơ và thách thức to lớn, đòi hỏi thế hệ hôm nay phải luôn luôn tin tưởng vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; đời đời ghi nhớ công ơn của các anh hùng, liệt sỹ đã chiến đấu, hi sinh vì độc lập, tự do của dân tộc; không ngừng nêu cao tinh thần yêu nước, tinh thần độc lập, tự chủ, không cam chịu nghèo nàn, lạc hậu; phát huy lòng nhiệt tình cách mạng, trí thông minh, sáng tạo để làm nên những “Điện Biên Phủ” trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế.
 
VĂN NHÂN
,
.