ĐƯA NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 5 VÀO CUỘC SỐNG
Nghị quyết Trung ương 5 - Những vấn đề cốt yếu về phát triển kinh tế, xã hội
Cập nhật lúc 10:00, Thứ Ba, 12/09/2017 (GMT+7)
(LĐ online) - Ngày 3/6/2017, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; Nghị quyết số 11-NQ/TW về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và Nghị quyết số 12-NQ/TW về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước. Đó là những vấn đề cốt yếu, đặc biệt quan trọng đối với việc thực hiện nhiệm vụ trọng tâm về phát triển kinh tế - xã hội do Đại hội XII đã đề ra. Để góp phần đưa các nghị quyết vào cuộc sống, Báo Lâm Đồng xin giới thiệu một số vấn đề cần quan tâm về 3 nghị quyết Hội nghị Trung ương 5, khóa XII.
 
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN (KTTN) TRỞ THÀNH MỘT ĐỘNG LỰC QUAN TRỌNG CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG (KTTT) ĐỊNH HƯỚNG XHCN
 
Nghị quyết 10 –NQ/TW Hội nghị Trung ương 5 đánh giá: Trong những năm qua, nhất là từ khi thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX “Về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân”, KTTN ở nước ta đã không ngừng phát triển, đóng góp ngày càng lớn hơn vào sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”. Nhận thức về vị trí, vai trò của KTTN đã có những bước tiến quan trọng, ngày càng tích cực hơn. Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách từng bước được hoàn thiện. KTTN liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá, chiếm tỉ trọng 39 - 40% GDP; thu hút khoảng 85% lực lượng lao động của nền kinh tế; góp phần quan trọng trong huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu ngân sách nhà nước. Bước đầu đã hình thành được một số tập đoàn KTTN có quy mô lớn, hoạt động đa ngành, có khả năng cạnh tranh tốt hơn trên thị trường trong nước và quốc tế; đội ngũ doanh nhân ngày càng lớn mạnh… 
 
Số liệu thống kê cho thấy: Khu vực KTTN có tốc độ phát triển nhanh hơn các thành phần kinh tế khác trong nền kinh tế, chiếm tỉ trọng cao trong GDP cả nước. Nếu như năm 2002 chiếm 27%, năm 2010 chiếm 42,96%, thì đến năm 2015 chiếm 43,22% GDP cả nước. Cùng với đó, 30% giá trị tổng sản lượng công nghiệp, gần 80% tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và dịch vụ, 64% tổng lượng hàng hóa và 100% giá trị sản lượng hàng hóa vận chuyển là từ khu vực KTTN. Đặc biệt, khu vực KTTN thu hút khoảng gần 85% lực lượng lao động cả nước, hằng năm tạo ra khoảng 1 triệu việc làm cho người lao động, góp phần quan trọng vào quá trình tái cấu trúc nền kinh tế, tăng thu nhập cho người dân...
 
Tuy nhiên, KTTN cũng bộc lộ không ít những hạn chế, yếu kém, vẫn chưa đáp ứng được vai trò là một động lực quan trọng của nền kinh tế, chủ yếu vẫn là kinh tế hộ gia đình, cá thể (94.8%) và DN có quy mô nhỏ và siêu nhỏ (trên 90% có mức vốn dưới 1 tỷ đồng), trình độ công nghệ thấp và chậm đổi mới; năng lực tài chính, năng suất lao động, hiệu quả kinh doanh còn thấp; trình độ quản trị, khả năng liên kết với các thành phần kinh tế khác và tham gia chuỗi giá trị trong nước và quốc tế còn thấp. Bên cạnh đó, tình trạng gian lận thương mại, cạnh tranh không lành mạnh, gây ô nhiễm môi trường, không bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm còn diễn biến phức tạp,… 
 
Có rất nhiều nguyên nhân làm cản trở sự phát triển của KTTN, nhưng rào cản lớn nhất là về tư duy và định kiến, khi vẫn có quan điểm đề cao vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế định hướng XHCN; khu vực này vẫn đang phải đối mặt cả về tư duy lý luận lẫn khung khổ pháp luật, điều tiết, cơ chế chính sách và thực thi cơ chế chính sách trên thực tế cũng như môi trường kinh doanh và năng lực nội tại của chính khu vực này… 
 
Trước tình hình đó, Hội nghị Trung ương 5 khóa XII đã ban hành Nghị quyết về phát triển KTTN, với các quan điểm chỉ đạo: Phát triển KTTN lành mạnh theo cơ chế thị trường là một yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa lâu dài; KTTN là một động lực quan trọng để phát triển kinh tế, cùng với kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể là nòng cốt để phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ; Xoá bỏ mọi rào cản, định kiến, tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển KTTN lành mạnh và đúng định hướng; KTTN được phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm; Khuyến khích KTTN tham gia góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp nhà nước khi cổ phần hoá hoặc Nhà nước thoái vốn; Chăm lo bồi dưỡng, giáo dục, nâng cao nhận thức chính trị, tinh thần tự lực, tự cường, lòng yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, gắn bó với lợi ích của đất nước và sự nghiệp xây dựng CNXH của các chủ doanh nghiệp.
 
Nghị quyết cũng đề ra mục tiêu phát triển KTTN trở thành một động lực quan trọng của nền KTTT định hướng XHCN, đưa KTTN phát triển nhanh, bền vững, đa dạng với tốc độ tăng trưởng cao cả về số lượng, quy mô, chất lượng và tỉ trọng trong tổng sản phẩm nội địa (GDP). Trong đó, mục tiêu cụ thể đặt ra là phấn đấu đến năm 2020 có ít nhất 1 triệu doanh nghiệp; đến năm 2025 có hơn 1,5 triệu doanh nghiệp và đến năm 2030 có ít nhất 2 triệu doanh nghiệp tốt. Tốc độ tăng trưởng của kinh tế tư nhân cao hơn tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế. Phấn đấu tăng tỉ trọng đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân vào GDP để đến năm 2020 đạt khoảng 50%, năm 2025 khoảng 55%, đến năm 2030 khoảng 60 - 65%. Bình quân giai đoạn 2016 - 2025, năng suất lao động tăng khoảng 4 - 5%/năm. 
 
Điểm mới của Hội nghị Trung ương 5 lần này là đã khẳng định KTTN không chỉ là động lực quan trọng, mà còn “cùng với kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể làm "nòng cốt" để bảo đảm xây dựng thành công nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế”. Đây là lần đầu tiên Đảng khẳng định KTTN có vai trò “nòng cốt” – vốn chỉ dùng cho kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể. Không những thế, vai trò của KTTN được đặt ngang hàng với kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể. Nếu quan điểm rất đổi mới này được triển khai một cách có hệ thống và nhất quán trong thực tế thì chắc chắn sẽ có những chuyển biến hết sức tích cực trong nền kinh tế Việt Nam. 
 
Có thể nói, Nghị quyết Nghị quyết số 10-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 5 là một bước tiến mới, tạo động lực thúc đẩy phát triển cho khu vực KTTN và toàn bộ nền kinh tế. Đồng thời, cũng thể hiện đường lối, quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước ta về KTTN. Quan điểm mới đặt trọng tâm phát triển KTTN sẽ tạo chuyển biến tích cực. Đây chính là đòn bẩy tinh thần vô cùng quan trọng để doanh nghiệp có thể phát huy vai trò động lực của nền kinh tế.
 
Để quan điểm mới về phát triển KTTN được thực thi, Nghị quyết đã đưa ra các nhóm giải pháp quan trọng, đó là: Nhóm giải pháp về thống nhất nhận thức, tư tưởng, hành động trong triển khai các chủ trương, chính sách về phát triển KTTN; Nhóm giải pháp tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho phát triển KTTN; Nhóm giải pháp xây dựng hệ thống cơ chế, pháp luật đủ sức hấp dẫn để thu hút đầu tư tư nhân vào nền kinh tế và tôn trọng các qui luật vốn có của nền KTTT. 
 
Với những quan điểm mới, có tính đột phá, việc thực hiện tốt các nội dung của Nghị quyết sẽ khơi nguồn cho sự đổi mới; là cơ sở để khuyến khích các lực lượng KTTN trước đây vốn bị kìm hãm hoặc bị hạn chế được bung ra; tạo điều kiện thuận lợi để giải phóng sức sản xuất, sáng tạo và phát huy toàn diện của vai trò KTTN trong mọi công đoạn của chuỗi giá trị sản xuất, để KTTN phát triển nhanh hơn, mạnh mẽ hơn và lành mạnh, đúng đắn hơn ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm. Điều này giúp có thêm sức mạnh và động lực để hội nhập sâu hơn, khai thác các thành phần kinh tế có nhiều tiềm năng một cách tốt hơn, là điều kiện để áp dụng công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao… 
 
Để Nghị quyết về phát triển KTTN đi vào cuộc sống, cần lưu ý một số điểm căn bản sau đây:
 
Thứ nhất, về thể chế chính sách, khi thực tế hiện nay vẫn còn nhiều định kiến về KTTN, nhất là ở cấp cơ sở; vì thế, Nhà nước cần khẩn trương ban hành khung pháp lý, cơ chế, chính sách nhằm cụ thể hóa và củng cố định hướng chính sách khuyến khích phát triển KTTN theo tinh thần Nghị quyết đã đề ra. Trong đó, phải tập trung vào việc thực hiện đồng bộ các giải pháp để bảo đảm chính sách hỗ trợ KTTN một cách thực chất, thông qua các chính sách hỗ trợ về lãi suất, ưu đãi về thuế, đất đai, giải phóng mặt bằng...; các cơ chế, chính sách phải tích hợp được với nhau, phải hình thành nên một trật tự sản xuất kinh doanh “mới hơn, có độ mở hơn” với các quan hệ đa dạng, nhiều chiều; tôn trọng nguyên tắc thị trường, tôn trọng pháp luật và để cạnh tranh lành mạnh thực sự trở thành động lực chính yếu giữa các doanh nghiệp.
 
Thứ hai, thực hiện triệt để cải cách hành chính, tăng cường hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, bộ, ngành và chính quyền địa phương theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển KTTN. 
 
Thứ ba, hoàn thiện pháp luật về chế độ sở hữu rõ ràng để góp phần ngăn ngừa xung đột trong xã hội, góp phần phân bổ nguồn lực hiệu quả. 
 
Thứ tư, cần đẩy mạnh hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, nâng cao năng lực quản trị. Trong đó, chú trọng chất lượng, hiệu quả đào tạo; đào tạo có trọng tâm, trọng điểm và ưu tiên đào tạo nhân lực cho khu vực KTTN trong một số ngành, lĩnh vực theo đặt hàng của doanh nghiệp. Các chương trình hướng nghiệp, giáo dục kinh doanh phải được giới thiệu và phổ biến ở bậc phổ thông.
 
Thứ năm, giải quyết kịp thời các vướng mắc, khiếu nại, kiến nghị của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Tăng cường tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp; kịp thời tiếp nhận và trả lời, giải đáp những vướng mắc của doanh nghiệp ở các cấp, ngành.
 
Thứ sáu, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; xoá bỏ các rào cản, chính sách, các biện pháp hành chính can thiệp trực tiếp vào thị trường và sản xuất kinh doanh tạo ra bất bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực xã hội; có cơ chế, chính sách tạo điều kiện để KTTN tích cực tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế…
 
Thứ bảy, đổi mới nội dung, phương thức và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp đối với KTTN.
 
Nghị quyết Trung ương 5 khóa XII đã được ban hành đem đến kỳ vọng cho khối KTTN, song điều quan trọng hơn mà các doanh nghiệp hiện nay quan tâm đó chính là việc thể chế hóa, xây dựng luật, pháp lệnh, các chương trình, cơ chế, chính sách cụ thể để khuyến khích và tạo điều kiện phát triển KTTN. 
 
HOÀN THIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG (KTTT) ĐỊNH HƯỚNG XHCN LÀ KHÂU ĐỘT PHÁ QUAN TRỌNG, TẠO ĐỘNG LỰC ĐỂ PHÁT TRIỂN NHANH VÀ BỀN VỮNG
 
Xác định ý nghĩa và tầm quan trọng của việc hoàn thiện thể chế kinh tế đối với sự phát triển của nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta, Hội nghị Trung ương 5, khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 03/6/2017 về “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN”. 
 
 Thời gian qua, việc triển khai và thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6, khóa X (Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 30/01/2008) và một số chủ trương của Đảng về hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN đã góp phần quan trọng từng bước định hình nền KTTT định hướng XHCN, ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đưa nước ta ra khỏi tình trạng nước kém phát triển, trở thành quốc gia có thu nhập trung bình, giữ vững định hướng XHCN; phát triển kinh tế gắn với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo đảm quốc phòng - an ninh…
 
Tuy nhiên, hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN ở nước ta thực hiện còn chậm; một số quy định pháp luật, cơ chế, chính sách còn chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu ổn định, nhất quán; còn có biểu hiện lợi ích cục bộ, chưa tạo được bước đột phá trong huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển…
 
Nguyên nhân những hạn chế, yếu kém chủ yếu là do nhận thức về nền KTTT định hướng XHCN chưa đủ rõ. Tư duy bao cấp còn ảnh hưởng nặng nề. Năng lực xây dựng và thực thi thể chế còn nhiều bất cập. Việc quán triệt, tổ chức thực hiện ở các cấp, các ngành, nhất là người đứng đầu thiếu quyết liệt, hiệu quả thấp và chưa nghiêm. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tệ quan liêu, tham nhũng ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên làm giảm hiệu lực, hiệu quả trong thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
 
Trên cơ sở đó, Nghị quyết 11-NQ/TW Hội nghị Trung ương 5, khóa XII đã đề ra 5 quan điểm chỉ đạo về xây dựng và hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN; trong đó nhấn mạnh đây là một nhiệm vụ chiến lược quan trọng, vừa cấp bách vừa lâu dài của cả hệ thống chính trị, là khâu đột phá quan trọng, tạo động lực để phát triển nhanh và bền vững; đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh CNH, HĐH; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.
 
Nghị quyết số 11-NQ/TW (khóa XII) và Nghị quyết số 21-NQ/TW (khóa X) đều đưa ra 5 quan điểm chỉ đạo. Tuy nhiên, có thể nói quan điểm chỉ đạo tại Nghị quyết số 11-NQ/TW khóa XII có những điểm mới cơ bản, mạnh mẽ hơn, nhấn mạnh hơn yêu cầu hoàn thiện thể chế đối với đổi mới và phát triển kinh tế đất nước; đồng thời xác định rõ hơn định hướng tiếp tục hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN ở nước ta hiện nay. 
 
Về mục tiêu tổng quát, kế thừa mục tiêu Đại hội XII của Đảng về hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN, Nghị quyết số 11 xác định: “Tiếp tục hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN, tạo tiền đề vững chắc cho việc xây dựng thành công và vận hành đồng bộ, thông suốt nền KTTT định hướng XHCN; góp phần huy động và phân bổ, sử dụng có hiệu quả nhất mọi nguồn lực để thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển nhanh và bền vững..."; đồng thời xác định rõ mục tiêu đến năm 2020 và đến năm 2030.
 
Về chủ trương và giải pháp tiếp tục hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN, Nghị quyết đề xuất 7 nhóm giải pháp lớn với 58 giải pháp cụ thể  (Nghị quyết số 21-NQ/TW chỉ đề xuất 4 nhóm giải pháp với 25 giải pháp cụ thể). Trong 7 giải pháp lớn, có một số điểm mới nổi bật như sau:
 
Thứ nhất, thống nhất nhận thức về nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta, Nghị quyết số 11 xác định: “Nền KTTT định hướng XHCN mà nước ta xây dựng là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của KTTT, đồng thời bảo đảm định hướng XHCN phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước; là nền KTTT hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo,...”. 
 
Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện thể chế về sở hữu, phát triển các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp; cụ thể: 
 
- Hoàn thiện thể chế về sở hữu, Nghị quyết yêu cầu tập trung hoàn thiện pháp luật về đổi mới quản lý, nâng cao hiệu lực quản lý và hiệu quả sử dụng đất đai, tài nguyên thiên nhiên và các loại tài sản công, nhất là tài sản và vốn đầu tư của Nhà nước tại doanh nghiệp; tạo thuận lợi cho việc chuyển nhượng hoặc cho thuê quyền sử dụng đất, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất; hỗ trợ tích tụ, tập trung ruộng đất để phát triển công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn và nông nghiệp hàng hoá quy mô lớn, công nghệ cao, gắn với bảo đảm việc làm và thu nhập bền vững của nông dân, giữ vững ổn định chính trị - xã hội ở nông thôn.
 
- Về hoàn thiện thể chế phát triển các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp, bên cạnh tiếp tục nhấn mạnh hoàn thiện các thể chế thúc đẩy khởi nghiệp, bảo đảm quyền tự do kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng, Nghị quyết còn yêu cầu xây dựng thể chế tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy phát triển doanh nghiệp và đội ngũ doanh nhân Việt Nam thật sự trở thành lực lượng nòng cốt, đi đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế, bảo đảm tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế.
 
Thứ ba, hoàn thiện thể chế phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường; cụ thể:
 
- Về thể chế phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường, ngoài việc tiếp tục hoàn thiện thể chế phát triển thị trường hàng hóa, dịch vụ, Nghị quyết đề xuất các giải pháp cụ thể phát triển và hoàn thiện thị trường các yếu tố sản xuất, chú trọng hoàn thiện pháp luật hỗ trợ và thúc đẩy cơ cấu lại thị trường tài chính (thuế tài sản, minh bạch thông tin về thị trường quyền sử dụng đất, tăng cường áp dụng phương thức cho thuê đất…).
 
- Về hoàn thiện thể chế để phát triển đồng bộ, vận hành thông suốt các thị trường, Nghị quyết đề ra những định hướng khá cụ thể trong việc phát triển từng loại thị trường quan trọng trong nền kinh tế bao gồm thị trường các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất (thị trường vốn, lao động, quyền sử dụng đất, khoa học và công nghệ v.v.); đồng thời đề cao yêu cầu bảo đảm tính cạnh tranh, kiểm soát độc quyền, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong nền kinh tế. Nghị quyết cũng đề ra định hướng tháo gỡ những “nút thắt” trong việc bảo đảm tính đồng bộ và thông suốt của một số thị trường cụ thể… 
 
 Thứ năm, hoàn thiện thể chế gắn kết tăng trưởng kinh tế với bảo đảm phát triển bền vững, tiến bộ và công bằng xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Nghị quyết đề đã ra các giải pháp để thực hiện các nhiệm vụ đề ra.
 
Thứ sáu, hoàn thiện thể chế đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế (những giải pháp này không có trong Nghị quyết số 21-NQ/TW); triển khai và thực hiện có hiệu quả Nghị quyết về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Rà soát, điều chỉnh, bổ sung hệ thống pháp luật và các thiết chế, cơ chế liên quan đáp ứng yêu cầu thực hiện các cam kết quốc tế. Thực hiện nhất quán chủ trương đa phương hoá, đa dạng hoá trong hợp tác kinh tế quốc tế, không để lệ thuộc vào một số ít thị trường...
 
Thứ bảy, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, vai trò xây dựng và thực hiện thể chế kinh tế của Nhà nước; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN.
 
- Về nâng cao năng lực lãnh đạo, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, Nghị quyết số 11-NQ/TW đã nhấn mạnh: “Đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng về kinh tế - xã hội. Nâng cao năng lực hoạch định đường lối, chủ trương phát triển kinh tế - xã hội của Đảng. Tăng cường lãnh đạo việc thể chế hoá và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về kinh tế - xã hội…” 
 
- Về nâng cao năng lực, vai trò xây dựng và thực hiện thể chế của Nhà nước, Nghị quyết chỉ rõ: “Đổi mới phương thức quản lý nhà nước về kinh tế; thực hiện đúng đắn và đầy đủ chức năng của Nhà nước trong nền KTTT. Điều hành nền kinh tế không chỉ bảo đảm mục tiêu ngắn hạn mà còn hướng tới thực hiện các mục tiêu trung và dài hạn. Nâng cao năng lực phân tích, dự báo, nhất là dự báo chiến lược... Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán và thực thi pháp luật..”
 
- Về phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp, Nghị quyết xác định: “Thể chế hoá các quy định của Hiến pháp về quyền con người, quyền công dân, quyền và nghĩa vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp. Bảo đảm mọi người đều được bình đẳng trong tiếp cận các cơ hội và điều kiện phát triển, được tham gia và hưởng lợi từ quá trình phát triển”.
 
Khác với Nghị quyết số 21-NQ/TW (khóa X), Nghị quyết số 11-NQ/TW (khóa XII) đã đề xuất 5 nhiệm vụ quan trọng cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện trong giai đoạn từ nay đến năm 2020, đó là:
 
- Hoàn thiện thể chế về huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, thể chế về phân phối kết quả làm ra để giải phóng sức sản xuất, tạo động lực và nguồn lực cho tăng trưởng, phát triển; bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, quốc phòng, an ninh.
 
- Hoàn thiện thể chế về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; có chính sách đột phá tháo gỡ những vướng mắc, tạo thuận lợi hỗ trợ doanh nghiệp phát triển trên cơ sở đẩy mạnh đồng bộ cải cách hành chính và cải cách tư pháp. Xây dựng thể chế làm căn cứ xử lý dứt điểm, hiệu quả các tồn tại, yếu kém đã tích tụ trong nền kinh tế nhiều năm qua, đặc biệt là việc xử lý các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, các dự án, công trình đầu tư công không hiệu quả, thua lỗ kéo dài; cơ cấu lại các tổ chức tín dụng yếu kém gắn với xử lý nợ xấu.
 
- Hoàn thiện thể chế về phát triển, ứng dụng khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, tranh thủ những cơ hội và thành tựu của Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
 
- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nền kinh tế và năng lực kiến tạo sự phát triển của Nhà nước, đặc biệt là năng lực, hiệu quả thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng và tổ chức thực hiện luật pháp, chính sách của Nhà nước.
 
- Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực, tinh giản bộ máy, biên chế, xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực, phẩm chất đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ; nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của toàn hệ thống chính trị.
 
Hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN là quá trình phát triển liên tục; kế thừa có chọn lọc thành tựu phát triển KTTT của nhân loại và kinh nghiệm tổng kết từ thực tiễn đổi mới ở nước ta; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời bảo đảm giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Đây là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, nếu thực hiện tốt, sẽ có vai trò làm xoay chuyển cục diện phát triển, đưa nước ta từ tình trạng có những mặt đang ở nguy cơ tụt hậu trở thành quốc gia có tốc độ phát triển nhanh, vượt qua được bẫy thu nhập trung bình, vươn lên trở thành quốc gia các thu nhập cao, dựa trên trình độ công nghệ hiện đại. Với tinh thần đó, cải thiện chất lượng thể chế kinh tế được xem là đột phá, góp phần tạo động lực để phát triển nhanh và bền vững.
 
ĐẨY MẠNH CƠ CẤU LẠI, ĐỔI MỚI VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC (DNNN)
 
Trong hơn 30 năm qua, Đảng ta luôn quan tâm đến việc đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN. Đặc biệt, năm 2001, Hội nghị Trung ương 3, khóa IX đã ban hành Nghị quyết chuyên đề “Về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước”. Trong 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 và các chủ trương, nghị quyết của Đảng về DNNN; các cấp, các ngành, các DNNN đã cụ thể hoá và triển khai thực hiện nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp để tiếp tục đổi mới, phát triển, nâng cao hiệu quả DNNN. DNNN là công cụ quan trọng để bảo đảm thực hiện có hiệu quả các chính sách ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm phát, đối phó với những biến động thị trường; tạo nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước; đóng góp quan trọng trong xây dựng và phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế; thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và chính sách an sinh xã hội…
 
Kết quả thống kê cho thấy: DNNN có đóng góp thu ngân sách lớn nhất so với các thành phần kinh tế khác. Tỉ trọng doanh thu DNNN trong tổng thu ngân sách nhà nước đạt 19,3% (giai đoạn 2006 - 2010) và 22% (giai đoạn 2011 - 2015). Nộp ngân sách nhà nước năm 2015 đạt 246.038 tỉ đồng; trong đó các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước chiếm 86%. Cơ cấu DNNN được đẩy mạnh, số lượng đã được thu gọn hơn, hiệu quả hoạt động, năng lực cạnh tranh được nâng lên. Theo số liệu của Bộ Tài chính, 350 DNNN sau cổ phần hóa, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2015 đều tăng hơn so với những năm trước khi cổ phần hóa: vốn điều lệ tăng 72%, tổng tài sản tăng 39%, doanh thu tăng 29%, lợi nhuận trước thuế tăng 49%, nộp ngân sách tăng 27%, thu nhập bình quân của người lao động tăng 33%. Quản lý nhà nước đối với DNNN được điều chỉnh phù hợp hơn với cơ chế thị trường.
 
Tuy nhiên, đến nay kết quả hoạt động của DNNN vẫn chưa đáp ứng yêu cầu, chưa thực hiện được được vai trò là lực lượng nòng cốt của kinh tế nhà nước và nhiệm vụ dẫn dắt, tạo động lực phát triển đối với nền kinh tế. Nhìn chung, hiệu quả kinh doanh và đóng góp của phần lớn DNNN còn thấp, chưa tương xứng với nguồn lực Nhà nước đầu tư. Không ít DNNN làm ăn thua lỗ, thất thoát, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực với những dự án đầu tư hàng ngàn tỉ đồng “đắp chiếu”, làm trầm trọng thêm nợ xấu ngân hàng và nợ công quốc gia, gây bức xúc trong nhân dân. Cơ chế quản trị DNNN chậm được đổi mới, kém hiệu quả, chưa phù hợp với các thông lệ, chuẩn mực quốc tế; tính công khai, minh bạch còn hạn chế. Việc cơ cấu lại DNNN và thoái vốn nhà nước triển khai chậm, quá trình cổ phần hoá còn nhiều yếu kém, tiêu cực. Đổi mới phương thức lãnh đạo của các tổ chức đảng, phương thức hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội trong doanh nghiệp chưa theo kịp yêu cầu đổi mới, cơ cấu lại DNNN.
 
Những hạn chế, yếu kém nêu trên do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhưng theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, nguyên nhân chủ yếu là do chưa xác định rõ ràng, đúng đắn chức năng, nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh và chức năng, nhiệm vụ chính trị-xã hội của DNNN; thể chế quản lý, kiểm tra, giám sát về đầu tư và tài chính đối với DN, nhất là về bảo lãnh vốn vay, định giá đất đai, tài sản hữu hình, vô hình còn nhiều bất cập. Công tác cán bộ, chính sách tiền lương của DN chưa phù hợp với cơ chế thị trường; quyền hạn và trách nhiệm của người quản lý DN chưa đủ rõ. Việc tách chức năng quản lý nhà nước đối với DNNN và chức năng của cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại DNNN thực hiện chậm. Cơ chế quản lý, giám sát và việc thực hiện quyền, trách nhiệm của cơ quan và người đại diện chủ sở hữu nhà nước tại DN còn bất cập, dễ bị lợi dụng để trục lợi, tham nhũng, tiêu cực...  
 
Tuy vậy, kết quả hoạt động của DNNN cho đến nay chưa đáp ứng yêu cầu. Đại hội XII của Đảng đã nhận định: “DNNN hoạt động kém hiệu quả, chưa thể hiện được vai trò là lực lượng nòng cốt của kinh tế nhà nưóc”; đồng thời đề ra yêu cầu và giải pháp tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN.
 
Để thực hiện yêu cầu của Đại hội XII, Hội nghị Trung ương 5, khóa XII, đã ban hành Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 3-6-2017 về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN. Mục tiêu của Nghị quyết là đánh giá việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng về sắp xếp, cơ cấu lại, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN mà Nghị quyết Trung ương 3 khóa IX đã đề ra (2001 - 2016); trên cơ sở đó quyết định các chủ trương, chính sách và giải pháp lớn nhằm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, đẩy mạnh cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN trong giai đoạn đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030.
 
Trong thời gian tới, để DNNN phát huy vai trò dẫn dắt nền kinh tế, Nghị quyết 12-NQ/TW đã đề ra 6 quan điểm chỉ đạo nhằm mục tiêu mục tiêu chung là: “Cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN trên nền tảng công nghệ hiện đại, năng lực đổi mới sáng tạo, quản trị theo chuẩn mực quốc tế nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội và bảo toàn, phát triển vốn nhà nước tại doanh nghiệp, bảo đảm vai trò của DNNN là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội”. Đồng thời xác định mục tiêu cụ thể đến năm 2020 và đến năm 2030.
 
Nghị quyết cũng đề ra các chủ trương, chính sách, biện pháp mới, có tính đột phá; cụ thể là:
 
Thứ nhất, đẩy mạnh chuyển đổi hầu hết các DNNN thành doanh nghiệp có cơ cấu sở hữu hỗn hợp, chủ yếu là doanh nghiệp cổ phần, niêm yết trên thị trường chứng khoán, lấy hiệu quả kinh tế làm tiêu chí đánh giá chủ yếu; thực hiện công khai, minh bạch, theo cơ chế thị trường, chủ yếu thông qua thị trường chứng khoán việc thoái vốn tại các doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn nhà nước; tập trung xử lý dứt điểm các tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp, các dự án, công trình đầu tư không hiệu quả, thua lỗ kéo dài, kể cả bằng biện pháp giải thể, phá sản.
 
Thứ hai, tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách để DNNN thật sự vận hành hoàn toàn theo cơ chế thị trường nhằm mục tiêu lợi nhuận; đáp ứng các chuẩn mực quốc tế về quản trị doanh nghiệp; tự chủ, tự chịu trách nhiệm, cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác theo quy định của pháp luật; bảo đảm công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Tách bạch nhiệm vụ kinh doanh và nhiệm vụ chính trị, công ích của DNNN; việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, xã hội do Nhà nước giao được triển khai theo cơ chế Nhà nước đặt hàng, lựa chọn cạnh tranh, công khai; xác định rõ giá thành, chi phí thực hiện, trách nhiệm và quyền lợi của Nhà nước, DNNN để bảo đảm không làm giảm hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Xóa bỏ các chính sách can thiệp hành chính trực tiếp, bao cấp dành cho DNNN. DNNN, nhất là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước phải đi đầu trong ứng dụng công nghệ, kỹ thuật hiện đại, sử dụng tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường; hạn chế tình trạng sản xuất kinh doanh khép kín, cục bộ, không minh bạch trong DNNN.
 
Thứ ba, đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống quản trị và nâng cao năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ quản lý DNNN. Xây dựng và áp dụng khung quản trị doanh nghiệp với các nguyên tắc phù hợp với chuẩn mực quốc tế; thiết lập các hệ thống quản trị, kiểm soát nội bộ có hiệu quả trong việc phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý vi phạm pháp luật, rủi ro, xung đột lợi ích, “lợi ích nhóm”, “sân sau”, lạm dụng chức vụ, quyền hạn, tiêu cực, tham nhũng. Người đứng đầu DNNN chịu trách nhiệm trực tiếp trước pháp luật và Nhà nước về toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp.
 
Ban kiểm soát, kiểm soát viên phải thực sự là công cụ giám sát hữu hiệu của chủ sở hữu, hoạt động độc lập và không chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo hoặc chi phối về lợi ích của hội đồng thành viên, hội đồng quản trị và ban điều hành của doanh nghiệp; thực hiện cơ chế tiền lương, tiền thưởng, thù lao phù hợp với cơ chế thị trường, có tính cạnh tranh cao dựa trên cơ sở kết quả sản xuất kinh doanh… 
 
Thứ tư, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với DNNN; hoàn thiện chức năng quản lý của Nhà nước đối với DNNN; rà soát, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về DNNN. Tăng cường công tác chỉ đạo, tiếp tục đổi mới, nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, giám sát của cơ quan quản lý nhà nước đối với các DNNN. Hoàn thiện tổ chức quản lý để thực hiện chức năng Nhà nước là chủ sở hữu đối với DNNN; bảo đảm quyền tự chủ của DNNN trong hoạt động theo nguyên tắc thị trường; khẩn trương hoàn thiện mô hình quản lý, giám sát doanh nghiệp và vốn, tài sản của Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp. Khẩn trương thành lập một cơ quan chuyên trách của Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu đối với DNNN.
 
Thứ năm, đổi mới phương thức và nâng cao hiệu quả lãnh đạo của tổ chức đảng; phát huy vai trò của nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp tại DNNN.
 
- Đảng lãnh đạo DNNN thông qua tổ chức đảng và đảng viên trong doanh nghiệp; nâng cao hiệu quả và vai trò lãnh đạo toàn diện của tổ chức đảng tại DNNN; quy định rõ trách nhiệm của cấp uỷ, người đứng đầu tổ chức đảng trong DNNN khi để xảy ra thua lỗ, tổn thất trong hoạt động và vi phạm chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước…
 
- Phát huy vai trò của nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong giám sát, phản biện xã hội đối với hoạt động của DNNN và công tác quản lý nhà nước đối với DNNN, nhất là đối với việc thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN. Đổi mới, hoàn thiện mô hình tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội tại DNNN. Phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp trong quá trình triển khai thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về DNNN; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động trong DNNN.
 
THỐNG NHẤT Ý CHÍ VÀ HÀNH ĐỘNG SỚM ĐƯA NGHỊ QUYẾT VÀO CUỘC SỐNG 
 
Trong bài phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 5 vừa qua, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh, 3 Nghị quyết chuyên đề về kinh tế được Trung ương ban hành tại Hội nghị lần này đều là những vấn đề cốt yếu, đặc biệt quan trọng đối với việc thực hiện nhiệm vụ trọng tâm do Đại hội lần thứ XII đã đề ra về phát triển kinh tế - xã hội. Do đó, Nghị quyết cần được quán triệt sâu sắc và tập trung triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả nhằm tạo sự chuyển biến nhận thức, thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trước hết là đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là các cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong các cấp, các ngành và các địa phương.
 
Theo đó, lãnh đạo chủ chốt từ tỉnh đến cơ sở cần tập trung học tập, quán triệt nghiêm túc để nắm vững các nội dung cơ bản, trọng tâm, những điểm mới, những định hướng lớn, mang tính đột phá về phát triển kinh tế tư nhân, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và cơ cấu lại DNNN mà các Nghị quyết Trung ương 5 khóa XII đã đề ra. Đồng thời vận dụng các mục tiêu, những quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp vào xây dựng chương trình, kế hoạch hành động của các cấp, các ngành, cơ quan, đơn vị; đề cao trách nhiệm, gương mẫu thực hiện, nói đi đôi với làm, tránh nói nhiều làm ít hoặc chỉ nói mà không làm, chỉ đạo triển khai Nghị quyết một cách có hiệu quả, thiết thực. Việc thực hiện các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa XII phải tiến hành đồng bộ, nhất quán với thực hiện Nghị quyết Đại hội XII và các Nghị quyết khác của Trung ương nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng - an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại; tăng cường và củng cố niềm tin trong Đảng, trong nhân dân.
 
BAN BIÊN TẬP
,
.