Tìm hiểu về hình thức xóa tên đảng viên

Cập nhật lúc 06:20, Thứ Ba, 03/12/2019 (GMT+7)
Hiện nay, có các hình thức xử lý và xử lý kỷ luật đảng viên khác nhau. Trong các hình thức xử lý có hình thức xóa tên đảng viên khỏi danh sách đảng viên. Xóa tên đảng viên không phải là một hình thức xử lý kỷ luật mà chỉ là hình thức xử lý.
 
Điều 35, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam được Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng thông qua năm 2011 quy định về các hình thức kỷ luật đối với tổ chức đảng và đảng viên. Đối với tổ chức đảng: Khiển trách, cảnh cáo, giải tán. Đối với đảng viên chính thức: Khiển trách, cảnh cáo, cách chức, khai trừ. Đối với đảng viên dự bị: Khiển trách, cảnh cáo. Theo các quy định của Đảng hiện nay, đối với 2 hình thức xử lý kỷ luật đảng viên là khiển trách và cảnh cáo thì khi biểu quyết chỉ cần trên 50% là nghị quyết đã có hiệu lực. Đối với 2 hình thức cách chức, khai trừ cần phải trên 2/3 (trên 50% hay trên 2/3 là tính theo tổng số đảng viên có quyền biểu quyết của tổ chức, chứ không phải tổng số đảng viên có mặt trong cuộc họp biểu quyết). Các hình thức này cũng đã được ghi rõ trong Quy định số 102-QĐ/TW ngày 15 tháng 11 năm 2017 của Bộ Chính trị về “Xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm”. Đó là: Hình thức kỷ luật đối với đảng viên chính thức gồm: Khiển trách, cảnh cáo, cách chức, khai trừ. Riêng với đảng viên dự bị là khiển trách và cảnh cáo.
 
Riêng đối với hình thức xử lý đảng viên là xóa tên đã được quy định tại Điều 8, Quy định số 29-QĐ/TW ngày 25 tháng 7 năm 2016 của Ban Chấp hành Trung ương về “Hướng dẫn thi hành Điều lệ Đảng”. Theo đó, các đảng viên bị xóa tên khi: Đảng viên bỏ sinh hoạt Đảng mà không có lý do chính đáng; đảng viên không đóng đảng phí 3 tháng trong năm mà không có lý do chính đáng; đảng viên tự ý trả thẻ Đảng hoặc tự hủy thẻ Đảng; đảng viên giảm sút ý chí phấn đấu, không làm nhiệm vụ đảng viên, đã được chi bộ giáo dục nhưng sau 12 tháng phấn đấu vẫn không có tiến bộ; đảng viên có 2 năm liền vi phạm tư cách đảng viên; đảng viên không bảo đảm tiêu chuẩn chính trị theo quy định của Bộ Chính trị (Trung thành với lợi ích của Đảng, của quốc gia, dân tộc và Nhân dân; Có lập trường, quan điểm, bản lĩnh chính trị vững vàng; Có tinh thần yêu nước nồng nàn…). 
 
Đối với đảng viên dự bị, nếu bị xử lý kỷ luật thì chi bộ vẫn xem xét đề nghị chuyển Đảng chính thức nếu còn đủ tiêu chuẩn. Điểm 2.3, Khoản 2, Điều 35 Quy định số 30-QĐ/TW ngày 26 tháng 7 năm 2016 của Ban Chấp hành Trung ương “Thi hành chương VII và chương VIII Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng”. Đảng viên dự bị vi phạm đến mức phải kỷ luật thì kỷ luật khiển trách hoặc cảnh cáo và khi hết thời hạn dự bị, chi bộ vẫn tiến hành xét công nhận đảng viên chính thức. Nếu vi phạm đến mức không còn đủ tư cách đảng viên thì xóa tên trong danh sách đảng viên.
 
Nếu không đủ tiêu chuẩn sẽ đề nghị cấp có thẩm quyền xóa tên. Đối với đảng viên chính thức, nếu thuộc các trường hợp bị xóa tên nêu trên nhưng lại vi phạm đến mức bị khai trừ thì buộc phải khai trừ và không được áp dụng hình thức xóa tên.
 
Đảng viên bị xóa tên sau này vẫn có thể được kết nạp lại. Quy định 29-QĐ/TW ghi rõ các trường hợp đảng viên bị xóa tên được kết nạp lại khi hội đủ các điều kiện, đó là: (1) Có đủ điều kiện và tiêu chuẩn của người vào Đảng. (2) Tuổi đời từ 18 đến 60 tuổi, có trình độ học vấn từ tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên, có lý lịch rõ ràng, trong sáng, thừa nhận và tự nguyện thực hiện Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, trải qua thời kỳ dự bị 12 tháng tính từ ngày chi bộ tổ chức lễ kết nạp… (3) Sau ít nhất 36 tháng kể từ khi ra khỏi Đảng, người bị xóa tên phải làm đơn xin kết nạp lại vào Đảng, được Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thành ủy đồng ý bằng văn bản, cấp ủy có thẩm quyền xem xét, quyết định. Riêng các trường hợp đã bị xóa tên nhưng nếu trước đây tự bỏ sinh hoạt Đảng thì không được xem xét, kết nạp lại. Việc kết nạp lại chỉ được một lần.
 
VŨ TRUNG KIÊN
,