Số phận những kho báu Chăm ở Lâm Đồng - Kỳ 2
Cập nhật lúc 16:59, Thứ Ba, 21/02/2012 (GMT+7)

Hành trình về thăm hai ngôi đền cổ

Sau một thời gian nghiên cứu tìm hiểu sử liệu, kết hợp với việc điều tra trên thực tế, chúng tôi biết rằng những địa điểm chứa báu vật Chăm ở làng Lơbui không còn nữa. Nhưng hai ngôi đền cổ là Sóp và Krayo vẫn còn.

Chính vì thế, đoàn cán bộ Bảo tàng Lâm Đồng đã phối hợp với Phòng Văn hóa huyện Đức Trọng quyết định tiến hành khảo sát, kiểm kê phổ thông đối với hai ngôi đền này.

Đoàn khảo sát dự lễ cúng ở đền Krayo - Ảnh tư liệu Bảo tàng Lâm Đồng
Đoàn khảo sát dự lễ cúng ở đền Krayo - Ảnh tư liệu Bảo tàng Lâm Đồng

Đến làng Sóp

Sau khi đã chuẩn bị các vật dụng đi rừng cần thiết, từ thị trấn huyện Đức Trọng đoàn chúng tôi bắt đầu xuất phát. Bấy giờ đã chớm đầu mùa mưa, đường vào Tà In vốn đã khó khăn nay thỉnh thoảng lại thêm mấy vũng lầy của những cơn mưa trái mùa nên lại càng khó hơn. Vất vả mãi tới xế chiều đoàn chúng tôi cũng vào được trụ sở ủy ban xã Tà In bằng chiếc xe Zeep cà tàng của bảo tàng.

Tối hôm đó chúng tôi tranh thủ gặp gỡ với già làng và bà con Churu ở làng Sóp. Cũng chính nhờ buổi gặp gỡ này, chúng tôi thu được không ít thông tin quan trọng liên quan tới lịch sử và các báu vật trong đền Sóp và đền Krayo.

Sáng hôm sau, theo chân anh công an xã Za Hiên và thầy cúng Za Tang, chúng tôi đến thăm đền Sóp, điểm cất giữ cổ vật Chăm đầu tiên. Vượt qua một cánh đồng nhỏ và đi theo con đường mòn chừng 1km chúng tôi mới tới nơi. Đền nằm giữa lưng chừng đồi, xung quanh cây cối rậm rạp. Đền được làm bằng những cây gỗ tròn nhỏ, mái lợp lá tranh. Xung quanh được che bằng những liếp lồ ô đan rất sơ sài, trông giống như một chiếc lán nhỏ giữa rừng. Phía trong đền có hai gian, có gác ở hai bên (bên phải thờ ông, bên trái thờ bà). Ngăn giữa không có gác, được kê một tấm phản ván mỏng để bày đồ thờ.

Sau khi lễ xong, thầy cúng Za Tang kéo từ gầm phản ra một giỏ tre đựng những cổ vật của đền còn cất giữ được cho chúng tôi xem.

Ở đây chúng tôi thấy ngoài hai cái bát lớn (trông giống như hai cái nắp) bằng đồng màu đen thường dùng để đựng nước cúng, còn có 15 hiện vật bằng gốm sứ (chủ yếu là gốm hoa lam). Đặc biệt trong đó có một tô bên ngoài có những ô viết chữ Hán (có thể là một bài thơ vịnh) và một liễn sứ men trắng vẽ lam.

Thầy cúng Za Tang còn kể trước đây có nhiều đồ dùng bằng vàng bạc của vua Chăm, có cả kho y phục bằng lụa của người Chăm. Hằng năm vào dịp lễ cúng (tháng chạp âm lịch) các thầy cúng lấy đồ ra mặc, xong lại cất trả trong kho. Nay mất hết, họ phải tự sắm đồ Chăm để mặc trong những ngày đó.

Chúng tôi còn được biết trước khi đến địa điểm này, đền Sóp đã được chuyển chỗ đến năm lần. Vì theo tục lệ cứ 50 năm đền lại được chuyển chỗ một lần. Các điểm đều nằm trong khu vực quanh đây. Vào năm 1960 chính quyền Sài Gòn đã cho xây đền mới bằng gạch lợp tôn ở một địa điểm cách Đà Loan chừng 3km. Nhưng rồi cuối năm 1968, sư đoàn 23 của quân đội Sài Gòn đã tới càn quét cướp đi những hiện vật quý trong đền, đồng thời cho máy bay thả bom xăng đốt đền. Sau sự kiện này đồng bào đã gom lại những hiện vật còn sót và làm lại đền.

Krayo và dấu tích đền xưa

Rời đền Sóp, chúng tôi đến thôn Klongbông. Anh Za Hiên dẫn chúng tôi đến gặp già làng và thầy cúng Za Theng, người phụ trách việc cúng lễ ở đền Krayo. Thầy cúng Za Theng và mọi người ở đây đều yêu cầu chúng tôi phải chuẩn bị lễ cúng mới được vào đền xem các đồ vật.

Theo tục lệ muốn vào đền phải cúng dê, gà, nhưng thông cảm với hoàn cảnh của chúng tôi, thầy cúng Za Theng và dân làng ở đây đồng ý cho chúng tôi chuẩn bị gà rượu để cúng. Sáng hôm sau, khi lễ vật đã chuẩn bị xong, thầy cúng Za Theng và một số người làng dẫn chúng tôi đi. Cả đoàn đi bộ chừng một tiếng rưỡi trong rừng thì tới đền. Cũng giống như đền Sóp, đền Krayo được làm từ các loại vật liệu tự nhiên: gỗ, tre và kiến trúc khá sơ sài. Đền có hai nhà, nhà lớn rộng chừng 24m2, có chín cột gỗ tròn. Xung quanh vách được che bằng phên lồ ô đập dập. Chỉ riêng vách phía tây (nơi để bàn thờ) là được làm bằng ván ghép. Bên trong đền cũng có hai bàn thờ đơn giản ở hai bên. Phía dưới có kê một sạp ván làm nơi ngồi cúng lễ và ăn uống của thầy cúng và dân làng.

Bên cạnh nhà lớn này là một nhà sàn nhỏ với tám cột gỗ tròn, hai gian được nối với nhau bằng hai thanh gác sàn bằng gỗ. Ở mỗi gian có một rương bằng gỗ đựng đồ đạc của vua và hoàng hậu. Phần gác sàn thì để súng.

Đền Krayo thờ vua Chăm Poklongkahul và hoàng hậu Poklongnaiqua. Theo lời kể của dân làng và thầy cúng Za Theng, trước đây đền có cả kho đựng đồ bạc và y phục của vua Chăm. Ngày đó có những hộp klon bằng vàng, mỗi hộp có ba lớp từ lớn đến nhỏ đựng tro và xương trán của vua và hoàng hậu, 500 chén và bốn mâm thờ bằng bạc. Một vương miện bằng vàng, ngoài ra còn có bốn rương quần áo có viền vàng và 52 cây súng. Nhưng tất cả đều bị mất dần. Đặc biệt sau năm 1968-1969 đền bị binh lính Sài Gòn cướp phá và cho máy bay ném bom sập đền (lúc này đền đã được xây lại và cố định ở đồi Kryo). Những báu vật quý giá của vua Chăm mất từ ngày đó.

Khi cúng, chúng tôi tiến hành kiểm kê chỉ thấy 18 cây súng dài và ngắn (chỉ còn lại phần nòng sắt). Một chiếc bình bằng bạc bị bẹp giúm, năm cái bát lớn nhỏ men trắng vẽ lam. Đặc biệt có một chén nhỏ men màu trắng đục xung quanh có trang trí hoa văn hình cánh sen, giữa thân có vẽ rồng ba móng. Ngoài ra không còn vật nào có giá trị nữa.

Hỏi thăm, đồng bào cho biết đền cũ bị ném bom (1968-1969) ở núi Kryo cách đây không xa, chúng tôi đã đề nghị anh Za Hiên và mấy người trong làng dẫn đi thăm. Sau khi cắt rừng đi chừng 3km về hướng tây thì đến nơi đền cũ. Trước mặt chúng tôi là một nền ximăng loang lổ dài 6m, rộng 1m, tường gạch đổ nát hoang tàn và cây rừng mọc đè lên. Phía trước là một bể nước dài 2,5m. Dạo quanh nền đền, giữa đám gạch vụn và cỏ cây, chúng tôi nhặt được một chiếc lục lạc nhỏ bằng đồng xung quanh trang trí hoa văn hình chữ Thọ rất sắc sảo. Theo lời kể của dân làng, trước đây đền được xây bằng ximăng lợp tranh, đền có hai tầng, tầng trên là kho chứa đồ đạc, còn tầng dưới đặt đồ cúng. Đền được tổ chức cúng lớn vào 15-5 dương lịch. Hằng năm vào ngày này dân làng tụ tập đông đủ, thầy cúng đều bận y phục Chăm để tế lễ theo phong tục Chăm.

Vào những năm trước 1930 còn có bà Ma Thèm (vốn dòng dõi con cháu của vua Chăm) ở Bình Thuận vẫn mang lễ vật lên thờ cúng ở đền, nhưng sau này con cháu của bà chắc không còn nhớ nổi chỗ nào mà đi thờ cúng nữa. Dừng chân giữa rừng dầu bên ngôi đền đổ nát, lòng chúng tôi không khỏi xúc động, tiếc nuối.

Những báu vật của triều đại Chăm tuy không còn, nhưng đền Krayo và Sópmadronhay vẫn còn đó. Đồng bào Churu vẫn không vì thế mà lãng quên trách nhiệm của mình trong việc thờ cúng vua Chăm, cũng như lời ủy thác của đồng bào Chăm trong cơn hoạn nạn.

Theo ĐOÀN BÍCH NGỌ (Báo Tuổi trẻ)

,