Làng Hoàng Đan - xưa & nay

Cập nhật lúc 06:57, Thứ Năm, 11/03/2021 (GMT+7)
Làng tôi bên bờ sông Đáy (cách cố đô Hoa Lư 8 km) có đồng lúa, nương ngô xanh mướt cánh cò bay, bát ngát hương đồng gió nội. Làng tôi có đê quai, cây đa, bến nước, sân đình lưu giữ bao trầm tích văn hóa và kỷ niệm. Thuở xưa, làng tôi có người con gái lấy vua, được phong Hoàng thái hậu. Cứ mỗi dịp tết đến, nỗi nhớ quê trong tôi lại trào dâng, bao kỷ niệm ùa về, như “tập phim” xem mãi, chẳng bao giờ chán.
 
Lăng Hoàng thái hậu
Lăng Hoàng thái hậu
 
Sớm mùng hai Tết, trời Đà Lạt sương mù giăng khắp lối, đẹp như bức tranh thủy mặc. Đang đứng từ lầu hai nhà riêng, chụp dinh Bảo Đại vàng rực giữa rừng thông xanh, thì điện thoại reng. Buông máy ảnh, nghe đầu dây bên kia tiếng anh Bùi Tự người làng, lập nghiệp ở Bình Dương chúc tết. Rồi anh bảo, ngày 20 tháng giêng “Họp mặt Hội đồng hương làng Hoàng Đan toàn miền Nam” tại nhà hàng X Sài Gòn, em thông báo bà con ở Lâm Đồng xuống dự nha. Tôi vui như đứa trẻ ngày tết khoe áo mới, rủ bạn chơi cù, bắn bi, đánh đáo hồi ở làng. Và, hồi ức về làng lại ùa về. Vẫn nhớ như in ngày rời làng, tôi đưa gia đình vào Đà Lạt lập nghiệp. Vậy mà, đã 35 năm rồi. Cuộc sống thật bận rộn, tôi ít có dịp về thăm quê. Ở xứ ngàn hoa Đà Lạt, tôi vẫn nhớ quê da diết. Đã bao lần nghe mẹ kể chuyện làng, hấp dẫn đến kỳ lạ. Mẹ tôi kể rằng, làng ta xưa có nàng Phương Dung đẹp người, đẹp nết cắt cỏ bên sông Đáy, giữa trưa nắng có đám mây che trên đầu, vừa làm vừa hát “Tay cầm bán nguyệt xênh xang/ Bao nhiêu thảo mộc lai hàng tay ta”. Lúc ấy, vua ngự thuyền rồng đi ngang qua, mê giọng hát hay, cho là duyên trời se, rồi đưa nàng về cung làm vợ. Bà sinh hạ một hoàng tử, sau lên làm vua, bà được phong Hoàng thái hậu. Sau khi bà qua đời, triều đình đưa thi hài bà về làng mai táng, xây lăng và đền thờ. Đến nay, ở làng vẫn còn tên gọi Vườn Rồng, Vườn Thụ, Vườn Kho, Mả Lăng, Mả Cháy… ghi dấu tích đám tang Bà. Tôi hỏi, sao mẹ thuộc sử làng quá vậy? Mẹ tôi bảo, bà cố kể cho bà ngoại, bà ngoại kể cho mẹ, mẹ kể cho con. Hồi còn ở làng, mẹ đi cấy, từng trú mưa trong lăng Hoàng hậu, đi chùa, vào đền bà Hoàng. Bao nhiêu trận lụt lút cả làng, mà lăng bà không ngập bao giờ. Tương truyền, dưới lăng có 100 quan tài, chỉ một mai táng Bà, còn 99 cái khác chôn cất gấm vóc, châu báu. Đã có kẻ đào trộm lăng, sau phát điên, ngày nào cũng đến lăng quỳ lạy xin bà tha mạng. Mẹ tôi tuy ít chữ, nhưng sáng dạ, đảm đang, hiền lành vô cùng. Mấy năm trước, tôi định đưa mẹ xuống Sài Gòn gặp người làng, nhưng mẹ qua đời năm 2014, thọ 86 tuổi. Tôi tiếc nuối và thương mẹ vô cùng, vì bố dự đôi lần, còn mẹ thì không! Tôi sinh ra và lớn lên ở làng 18 năm, rồi đi bộ đội, đã từng vào lăng và đền thờ Hoàng thái hậu. Tôi tin lời mẹ kể là sự thật. Là người cẩn trọng “Nói có sách, mách có chứng”. Nhiều năm nay, tôi đã nhờ người thân ngoài quê tìm - dịch gia phả, văn bia bà Hoàng, nhưng chưa kết quả. Rất may, có thầy dạy sử Đại học Đà Lạt tặng file cuốn “Đại Việt sử ký toàn thư”, tôi tìm ra thân thế, công đức của bà.  
 
Vậy là đã rõ. Lời kể của mẹ tôi khá trùng khớp với sử sách nước nhà. Gần ngàn năm tuổi, làng Hoàng Đan xưa và nay có hàng ngàn hộ dân vẫn bám đất giữ làng, hàng trăm hộ di cư khắp mọi miền Tổ quốc và hàng chục hộ ra nước ngoài lập nghiêp. Làng tôi, đã từng bị giặc Pháp đốt cháy trụi làng, người dân phải tản cư tứ xứ. Làng tôi, đã từng bị bom Mỹ tàn phá, giết hại dân lành. Làng tôi “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. Làng tôi, có hàng trăm người tham gia kháng chiến, bộ đội, công an, có hàng chục liệt sĩ ngã xuống bảo vệ làng - nước, có Mẹ Việt Nam anh hùng, có đại biểu Quốc hội, nhiều người là những dũng sĩ, thương binh, nhà giáo, kỹ sư, bác sĩ, doanh nhân, nhà báo, văn nghệ sĩ, công nhân, nông dân... tiên tiến. Dù ở bất kỳ nơi đâu, dân làng Hoàng Đan cũng đều hiếu học, cần cù, vượt khó, nghĩa tình, giàu lòng yêu nước và thành đạt. Hiện tại làng tôi có 5 xóm An Phúc, An Khánh, An Phận, Thanh Vân, Quang Phúc với hơn ngàn hộ dân, đang ra sức xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp. Lòng tôi quặn đau khi biết, nhà văn Nam Cao (với tác phẩm Chí Phèo nổi tiếng) bị lính Pháp bắn chết tại bến đò Hoàng Đan năm 1951, hưởng thọ 34 tuổi. Nhưng rất đỗi tự hào, xã Yên Hưng đón nhận danh hiệu Anh hùng LLVTND, với trận thắng oanh liệt phá tan đồn bốt Pháp ở làng Hoàng Đan (trấn giữ cầu Gián Khẩu và Ngã ba sông Đáy - sông Hoàng Long) năm 1953. 
 
Đêm nay, trên chuyến xe về Sài Gòn họp mặt đồng hương làng Hoàng Đan, lòng tôi nôn nao kỳ lạ, mặc cho xe lướt qua vùng rau - hoa nhấp nháy ánh đèn nhà kính, trong màn sương mờ ảo. Tôi lơ đãng hít hà hương trà - cà phê nồng nàn, trên cao nguyên Lâm Đồng. Và, chợt bừng tỉnh, ngất ngây nghe bài hát “Quê hương” từ điện thoại ai đó phát ra nhè nhẹ. “Quê hương là chùm khế ngọt/ Cho con trèo hái mỗi ngày/...Quê hương nếu ai không nhớ/ Sẽ không lớn nổi thành người”. Tôi tự nhủ, hãy xứng đáng là dân làng Hoàng Đan - hậu duệ bà Hoàng thái hậu.
 
HÀ HỮU NẾT
,