Nguyễn Thị Minh Khai sáng ngời phẩm chất và khí tiết của người cộng sản
Cập nhật lúc 09:39, Thứ Năm, 22/03/2018 (GMT+7)
Nguyễn Thị Minh Khai (ảnh TL)
Nguyễn Thị Minh Khai (ảnh TL)
Nguyễn Thị Minh Khai tên thật là Nguyễn Thị Vịnh, sinh năm 1910 tại xã Vĩnh Yên, thành phố Vinh - Nghệ An. Sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước lại được theo học quốc ngữ từ nhỏ. Chị từng là học trò của thầy giáo Trần Phú (người sau nay là Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương). Khi vừa lớn lên, chứng kiến cảnh lầm than cơ cực của đồng bào tại quê nhà dưới ách đô hộ của thực dân Pháp và được chính người thầy giáo, nhà cách mạng - Trần Phú giác ngộ nên năm 16 tuổi chị đã tham gia hoạt động cách mạng. Chị gia nhập Đảng Tân Việt vào năm 1927 và lấy bí danh là Minh Khai. Sau đó trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương phụ trách công tác tuyên truyền, vận động phụ nữ, tổ chức huấn luyện đào tạo cán bộ cho Đảng, làm nòng cốt cho cao trào Xô viết - Nghệ Tĩnh. Chị đã tích cực tham gia các phong trào đấu tranh như: vận động chị em phụ nữ tại quê nhà tham gia bãi khóa, biểu tình đòi ân xá cho cụ Phan Bội Châu, truy điệu cụ Phan Chu Trinh. Từ 1930 đến 1935, chị được tổ chức đưa ra nước ngoài học tập và hoạt động trong tổ chức Quốc tế Cộng sản. Được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp giáo dục về lý luận chính trị, kinh nghiệm hoạt động cách mạng, lại sẵn có tư chất thông minh nhờ vậy chị tiến bộ rất nhanh. Trong quá trình công tác, chị đã tranh thủ học thành thạo 3 ngoại ngữ: tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Trung Quốc.
 
Tại Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ 7 ở Mát-xcơ-va, ngày 16/8/1935 lấy bí danh là Phan Lan, chị đã dõng dạc đọc bài tham luận về vai trò của phụ nữ Đông Dương trong cuộc đấu tranh chống chiến tranh đế quốc và bảo vệ hòa bình. Lần đầu tiên trên diễn đàn của một đại hội quốc tế, người phụ nữ Việt Nam 24 tuổi này với đôi mắt sáng ngời và những lập luận đấu tranh sắc sảo, đanh thép đã làm cho bạn bè thế giới nể phục. Năm 1937 chị trở về nước công tác tại Sài Gòn. Sau đó được bầu vào Xứ ủy Nam Kỳ làm Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn, lãnh đạo các cơ sở cách mạng và nhân dân đấu tranh, lúc đó chị vừa tròn 29 tuổi. Mặc dù hoạt động trong điều kiện bí mật hết sức khó khăn nhưng chị vẫn kiên cường cùng các đồng chí bám sát cơ sở, lãnh đạo phong trào phát triển mạnh mẽ. Trong khi đang hoạt động sôi nổi thì nhận được tin chồng là anh Lê Hồng Phong bị địch bắt, giam cầm và đối mặt với án tử hình. Tuy rất thương chồng nhưng để giữ bí mật chị đành phải nhờ người vào thăm đưa quà và chuyển lời động viên anh yên tâm tình riêng, giữ vững khí tiết cách mạng. Lúc này chị đang mang thai con đầu lòng. Sau khi sinh cháu gái Hồng Minh, chỉ ở với con được một tháng vì nhiệm vụ cấp bách của cách mạng, chị phải gửi con lại cho cơ sở cách mạng nuôi rồi lại tiếp tục đi hoạt động.
 
Tháng 7/1940 giữa lúc phong trào cách mạng đang phát triển mạnh mẽ thì chị bị địch bắt sau khi dự phiên họp Xứ ủy Nam Kỳ bàn về chủ trương khởi nghĩa. Chị Minh Khai bị bọn Pháp bắt và đưa về giam tại Khám Lớn Sài Gòn. Chúng đã giở hết các thủ đoạn tâm lý chiến và tra tấn hết sức dã man nhưng vẫn không lung lạc được người nữ chiến sĩ cộng sản. Khi biết chị là vợ của đồng chí Lê Hồng Phong chúng đã đưa hai người về giam chung và đưa anh vào cho chị nhận mặt nhưng chị đã nén tình cảm riêng tư trả lời với chúng là: “Tôi không biết người này” để đối phó với âm mưu thâm độc của kẻ thù. Trong tù chị tiếp tục vận động chị em phụ nữ đấu tranh. Sau những trận mưa đòn tra tấn của địch, chị đã dùng máu của mình viết lên tường xà lim những câu thơ nêu cao phẩm chất, khí tiết của người chiến sĩ cộng sản: “Dù đánh, dù treo, càng cương quyết; dù kềm, dù kẹp chẳng sai lời”; “Hy sinh phấn đấu vì nhiệm vụ, triệt để thực hành chết mới thôi”... Tuy bị giam trong ngục nhưng với cương vị là Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn, Ủy viên Xứ ủy Nam Kỳ, chị vẫn tìm mọi cách để liên lạc với bên ngoài, tiếp tục lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ (ngày 23/11/1940). 
 
Không những là người chiến sĩ cộng sản kiên cường, chị Nguyễn Thị Minh Khai còn là người phụ nữ giàu tình cảm. Điều đó được thể hiện qua lời thơ vĩnh biệt người chồng yêu đang bị đày nơi Côn Đảo, tấm áo gối làm từ vải áo tù gửi về tặng mẹ già chốn quê nhà một chút lòng hiếu thảo khi thấy mình không làm tròn bổn phận chăm sóc mẹ lúc già yếu và chị cũng không quên gửi lời cám ơn đến những người đồng chí đang nuôi nấng cô con gái bé bỏng Hồng Minh của mình.
 
 Không khuất phục được người chiến sỹ cộng sản trẻ tuổi, thực dân Pháp đã kết án tử hình chị. Sáng ngày 28/8/1941, chúng đã hèn hạ đưa chị Nguyễn Thị Minh Khai cùng một số đồng chí ra xử bắn ở Hóc Môn. Chị hi sinh khi mới 31 tuổi. Trước khi ra pháp trường chị vẫn giữ phong thái bình thản, nhắn nhủ cùng đồng bào, đồng chí tiếp tục đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, cho sự nghiệp giải phóng phụ nữ: 
 
“Vững chí bền gan ai hỡi ai
Kiên tâm giữ dạ mới anh tài
Thời cuộc đẩy đưa người chiến sĩ
Con đường cách mạng vẫn chông gai”.
 
Nguyễn Thị Minh Khai đã hi sinh lúc mới tròn 31 tuổi nhưng cuộc đời phấn đấu không biết mệt mỏi cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, cho sự nghiệp giải phóng phụ nữ, tấm gương hy sinh anh dũng của chị và các chiến sỹ cách mạng mãi sáng ngời để cho phụ nữ chúng ta học tập và noi theo. Tên tuổi và sự nghiệp cách mạng cao quý của chị mãi được nhân dân Việt Nam tưởng nhớ và lịch sử khắc ghi.
 
ÐOÀN BÍCH NGỌ
,
.