Lòng yêu nước Việt Nam đậm tính nhân văn (tiếp theo)
Cập nhật lúc 09:32, Thứ Năm, 12/07/2018 (GMT+7)
 
John McAlister khâm phục các luận điểm của Paul Mus được trình bày trong loạt tác phẩm đã xuất bản của thầy. Tiếp theo sau Viêt-Nam, Xã hội học về một cuộc chiến tranh (1952) là Số phận của Liên hiệp Pháp (1954), Cuộc chiến tranh không có mặt (1961) (Tất cả đều do NXB Le Seuil, Paris ấn hành). Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu của Paul Mus, ngoài một số bài viết bằng tiếng Anh, còn lại đều in bằng tiếng Pháp, không thuận tiện cho đại đa số độc giả Mỹ. John McAlister ca ngợi thầy: “Tầm vĩ đại của Paul Mus với tư cách bác học và giáo sư là ở chỗ ông mô tả tình hình đáng lo ngại của Pháp ở Việt Nam trong chiến tranh 1945-1954 qua sự phân tích rất sâu sắc và sáng tỏ, với hào hứng diệu kỳ, được nuôi dưỡng từ những trải nghiệm của ông trong cuộc sống... Lần đầu tôi được gặp và thưa chuyện với ông năm 1957, tôi cực kỳ ngạc nhiên trước cái nghịch lý ở con người ấy. Đôi mắt cận thị rất nặng, đeo kính mắt dày tựa cái đáy ve chai, cử chỉ ông vụng về, thân thể ông to béo khiến cho bất kỳ ai gặp ông đều nghĩ con người này không thể làm được việc gì đòi hỏi thể lực dẻo dai. Vậy mà trên thực tế ngược lại, ông đã trải qua một cuộc đời thật năng động, vượt qua không biết bao hiểm nguy”.
 
John McAlister có ý định dựa vào công trình chính của thầy để làm thêm một cuốn sách nữa, vừa giới thiệu các luận điểm của Paul Mus qua việc biên dịch cuốn sách chính của thầy, vừa thêm một phần bày tỏ quan điểm và chính kiến của riêng mình. Lúc này Giáo sư Paul Mus lâm bệnh rồi qua đời. Ông tìm gặp bà quả phụ Suzanne Mus và Nhà Xuất bản Le Seuil, Paris (giữ tác quyền), xin được làm cuốn The Vietnamese and their revolution, Phần I gồm 15 chương lấy từ công trình Viêt-Nam, Sociologie d’une guerre của Paul Mus do ông chuyển sang Anh ngữ, có rút gọn ít nhiều, và Phần II gồm một số chương của chính John Mc Alister viết về vấn đề Mỹ và cuộc chiến của họ tại Việt Nam. 
 
Bà Suzanne Mus và Nhà Xuất bản Le Seuil đồng ý cho John McAlister sử dụng tác phẩm của Paul Mus để làm cuốn The Vietnamese and their revolution. Mặt khác, sau 20 năm phát hành, cuốn Viêt-Nam, Sociologie d’une guerre của Paul Mus đã bán hết, tại Pháp cũng không còn bản nào, Nhà Xuất bản Le Seuil quyết định, song song với cuốn sách của hai thầy trò Paul Mus và John McAlister bằng tiếng Anh sẽ cho ra bản tiếng Pháp, nằm trong Tủ sách L’histore immédiate (Lịch sử tức thì) do nhà báo, nhà văn, nhà sử học Jean Lacouture chủ trì. Sách có lời giới thiệu của bà quả phụ Suzanne Mus và phần Phụ lục in bức thư - nhật ký rất dài của Paul Mus gửi vợ tháng 4 năm 1946, kể chi tiết chuyến ông thoát thân từ Hà Nội sang Trung Quốc tháng 3 năm 1945, hấp dẫn như tiểu thuyết phiêu lưu. 
 
Tại bìa 4, Jean Lacouture viết mấy dòng giới thiệu: “Từ những náo động của xã hội Việt Nam trong Chiến tranh thế giới thứ hai đến những nỗ lực cuối cùng của các tướng lĩnh dưới quyền Richard Nixon năm 1972 (ám chỉ cuộc thất bại của Mỹ qua chiến thắng của quân dân ta trong trận Hà Nội, Điện Biên Phủ trên không), ba mươi năm lịch sử được làm sống lại tại cuốn sách này, qua cái nhìn kép của một nhà bác học lớn người Pháp và một trong những người Mỹ đã chỉ trích mạnh mẽ nhất cuộc chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam”.
 
Cuốn sách của hai thầy trò gây chấn động dư luận Mỹ tới mức Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ mở một phiên họp chuyên đề, mời Giáo sư John McAlister đến điều trần với tư cách chuyên gia về Việt Nam. Phát biểu trước các thượng nghị sĩ Mỹ, John McAlister cực lực phản đối chính sách của nhà cầm quyền Mỹ trong chiến tranh Việt Nam. Tuy nhiên, ông làm sao lay chuyển nổi lòng dạ những con diều hâu khát máu đứng đầu là Nixon, với những cố vấn thân cận như Kissinger?
 
Ðại đồng và… đại dị
 
“Cái nhìn kép” của hai thầy trò dĩ nhiên có đồng có dị. Cái đồng là cả hai cùng nghiêng mình thán phục khí phách người Việt trước mọi thiên tai, địch họa và lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam mỗi lần đất nước bị ngoại xâm. Cái dị (khác biệt) không hề nhỏ mà ngược lại, to đùng. Giáo sư Paul Mus đề xuất với các nhà cầm quyền nước ông nên cố tìm giải pháp hòa bình trong vấn đề Việt Nam mà vẫn bảo tồn được ít nhiều cái gọi là “sự vĩ đại của nước Pháp thực dân”. Ông kiến nghị hình thành Liên hiệp Pháp qua việc công nhận quyền tự trị của các nước thuộc địa cũ của Pháp bắt đầu từ “xứ Đông Dương”, mời các nước ấy tham gia, dĩ nhiên do Pháp dẫn, tiến tới dần dần trao quyền độc lập cho những nước hội đủ điều kiện, tương tự khối “Thịnh vượng chung” của Anh sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Việt Nam từng bày tỏ ta sẵn sàng tham gia liên hiệp ấy với điều kiện Pháp phải công nhận ngay quyền tự trị của nước Việt Nam và sau 5 năm, chậm nhất 10 năm, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là quốc gia hoàn toàn độc lập. Đó là một bước nhân nhượng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ nhắc đến, mở đầu Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19/12/1946: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa!”.
 
Trò đểu cáng đầu tiên của thực dân Pháp là đòn hiểm độc của tên thực dân cáo già, Phó Đô đốc D’Argenlieu. Chúng cứ ậm ừ, làm ra vẻ chấp thuận bước nhân nhượng của chúng ta. Lợi dụng lúc Hồ Chủ tịch đang trên đường sang Pháp với tư cách thượng khách của Thủ tướng Pháp, tại Sài Gòn y tuyên bố thành lập Việt Nam Cộng hòa và mời cựu hoàng Bảo Đại đang sống phóng đãng tại nước ngoài về làm quốc trưởng. Thời gian này, cựu hoàng chơi bời trác táng tới mức, theo lời bà thứ phi Bùi Mộng Điệp người tình chung thủy ông, có bao nhiêu vàng bạc, đá quý, đồ trang sức bà bán hết gửi sang cho Vĩnh Thụy, vẫn không đủ cho “Ông Ngài” phung phí.
 
Một trò đểu cáng nữa của D’Argenlieu là đối với chính trợ lý của mình. Sau Ngày toàn quốc kháng chiến 19/12/1946, cả hai bên đều biết mọi ước vọng giải quyết hòa bình vấn đề Việt Nam đã tan vỡ, y vẫn lệnh cho Paul Mus với tư cách cố vấn chính trị của Cao ủy kiêm Tổng tư lệnh Đạo quân viễn chinh Pháp tại Viễn Đông, mang công hàm từ Hà Nội lên tỉnh Thái Nguyên xin gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, mời nước Việt Nam với nhiều điều kiện khắt khe và theo nhận định của các nhà sử học, có tính miệt thị nữa, tham gia Liên hiệp Pháp bên cạnh quốc gia của quốc trưởng bù nhìn!
 
Lịch sử thật lắm chuyện trớ trêu. Sau ngày 19/12/1946, quân Pháp chiếm Hà Nội, chiến tranh lan rộng, D’Argenlieu trở về Pháp gặp Tổng thống Pháp Vincent Auriol. Y làm ra mặt cao giá, dọa từ chức nếu chính phủ Pháp không đồng ý tăng thêm quyền thêm lực cho y sớm chiến thắng tại Việt Nam. Và con cáo già quá đỗi “ngạc nhiên và bực bội” khi nghe Tổng thống Pháp chấp nhận luôn tại chỗ lời từ chức mang tính... vòi tiền. D’Argenlieu đành cay đắng bàn giao quyền lực cho cố vấn chính trị là Émile Bollaert. Về quân sự, sẽ do tướng Leclerc chỉ huy.
 
“Quân lệnh như sơn”, vị học giả uyên thâm Hán học không thể không chấp hành quân lệnh (lúc này ông làm cố vấn cho tướng Leclerc), dù biết trước chuyến đi đầy hiểm nguy của mình chắc chắn thất bại. Vì vậy, ông hoàn toàn không ngạc nhiên khi nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau khi đọc công hàm của phía Pháp do ông trao, trả lời bằng một câu sẽ trở thành nổi tiếng trong lịch sử: “Trong Liên hiệp Pháp không có chỗ cho những kẻ hèn mạt. Nếu tôi chấp nhận các điều kiện các ông nêu, tôi sẽ thành một trong những tên hèn mạt ấy”. (Nguyên văn trong bản tiếng Pháp: “Dans l’Union francaise, il n’y a pas de places pour les lâches; si j’acceptais ces conditions, j’en serais un”).
 
Paul Mus cáo từ Hồ Chủ tịch trở về Hà Nội, lòng càng vững tin vào nhận định từ trước của mình: Rõ ràng “Ông Cụ” là nhà lãnh đạo cao nhất phía Việt Nam, ông tự do quyết định mọi việc, và ông hoàn toàn tin chắc kháng chiến nhất định thắng lợi.
 
Paul Mus kể lại: Ông được ta đón tiếp tử tế tại vùng giáp ranh. Một sĩ quan trẻ của ta được giao nhiệm vụ dẫn đường cho ông lên chiến khu, đến một ngôi biệt thự duy nhất còn sót lại trong một vùng thuộc tỉnh Thái Nguyên, gần dãy núi đá vôi có nhiều hang hóc. Anh vốn là sinh viên Đại học Luật Hà Nội. Trên đường về, vẫn sĩ quan liên lạc ấy tháp tùng ông rời Thái Nguyên qua vùng tự do của ta đến nơi giáp ranh hai chiến tuyến, bàn giao cho phía Pháp. Trên đường đi, nhìn thấy vẻ mặt trầm ngâm của ông thầy cận thị, anh hỏi: “Vậy là chiến tranh?”. Paul Mus trang trọng gật đầu, và nghe chàng trai lẩm bẩm: “Thôi ta tạm gác ước mơ sang Paris học tiếp!”.
 
Tuy nhiên, John McAlister lại có cách nghĩ khác thầy. Sau khi quả quyết chính sách của nhà cầm quyền Mỹ muốn dùng vũ lực áp đặt mọi thứ của Mỹ lên đất nước Việt Nam nhất định rồi sẽ thất bại, ông cảnh báo tại “Lời kết” cuốn Người Việt Nam và cuộc cách mạng của họ, phần do ông viết, như sau: “Nếu nước Mỹ không có một kế hoạch nào khác “mang tính cạnh tranh” với kế hoạch của nhà cầm quyền Mỹ, nhằm động viên các tầng lớp nông dân Việt Nam (ở miền Nam) và chia sẻ quyền lực với họ, thì các lực lượng quân sự Mỹ rốt cuộc chỉ có thể hoạt động ở hậu phương mà thôi”.
 
Ý kiến này bị nhiều người Mỹ bác bỏ ngay lúc ấy. Trên báo The New York Times/ Review o Books số ra ngày 17/5/1970, học giả James C. Thompson Jr., sau khi đánh giá cao tác phẩm của hai thầy trò, phê phán John McAlister: “Điều tệ hại duy nhất là cuốn sách chuyển thông điệp đến với người đọc, khuyên Mỹ nên tìm “một kế hoạch khác mang tính cạnh tranh” trong khuôn khổ tiếp tục cuộc chiến bằng bom đạn. Đi theo hướng ấy thì mọi người có thể nhìn thấy nhãn tiền, rồi sẽ còn nhiều năm chiến tranh đẫm máu nữa, rồi nước Mỹ sẽ càng lún sâu vào đầm lầy, và đó là tấm thảm kịch cho cả hai quốc gia Mỹ và Việt Nam”.
 
(còn nữa)
 
PHAN QUANG
,
.