Chữ quốc ngữ trong văn hiến Việt Nam
Cập nhật lúc 08:59, Thứ Năm, 06/12/2018 (GMT+7)
Quá trình hình thành chữ quốc ngữ kéo dài hơn ba trăm năm, tính từ ngày những giáo sĩ phương Tây đầu tiên đặt chân lên đất Việt tiếp xúc với người bản địa cho đến khi tờ báo tiếng Việt đầu tiên ra đời với bộ chữ in theo mẫu tự roman có đủ các dấu thanh sắc, huyền, ngã, hỏi, nặng được đặt làm ở châu Âu riêng cho nó. Theo các nhà sử học (Trong số đó có Jean Lacouture qua bộ sách Các giáo sĩ Dòng Tên, Nxb Le Seuil, Paris 1991 và 1992), đội thương thuyền đầu tiên của Bồ Đào Nha cập vịnh Đà Nẵng năm 1516, năm năm sau khi họ đổ quân lên chiếm Malacca (eo biển Mã Lai), ở Đàng Ngoài thì muộn hơn và đến từ Macao (Trung Quốc) mà trước đó họ đã chiếm làm thuộc địa, vậy mà mãi đến năm 1651, tức 135 năm sau, mới có cuốn Từ điển Việt - Bồ Đào Nha - Latinh xuất bản tại Roma. 
 
Để có được cuốn từ điển này (mà ai là tác giả vẫn tồn nghi), chắc hẳn nhiều giáo sĩ nước ngoài khi đặt chân lên đất Việt đã phải dùng tiếng Bồ thông qua phiên dịch để giao tiếp với người bản địa, và dùng mẫu tự roman để phiên âm, ghi chép theo cách dùng trong tiếng Bồ hoặc tiếng mẹ đẻ của họ mà học tiếng bản địa (Có lẽ vì vậy, các nhà ngôn ngữ học cho rằng các mẫu tự chữ quốc ngữ ta gần tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Tây Ban Nha hơn tiếng Pháp). Dù vậy, sau khi đã được định hình một cách tương đối có hệ thống, chữ quốc ngữ vẫn quanh quẩn phạm vi các nhà thờ Thiên chúa giáo và một số ít tín đồ, bởi hầu hết nông dân ta thời ấy thất học. Phải đợi đến ngày Gia Định báo, tờ báo bằng tiếng Việt đầu tiên ra mắt bạn đọc năm 1865, chữ quốc ngữ mới bắt đầu có “công chúng” là những người không phải là tín đồ đạo Thiên chúa. Rồi phải chờ một thời gian sau nữa, đến cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX, khi nhà cầm quyền Pháp chủ trương mở một loạt trường học đào tạo người làm việc cho họ, bắt đầu bằng cách cho người Việt tập đọc, tập viết tiếng mẹ đẻ đến một mức độ nào đó sẽ chuyển sang học tiếng Pháp, thì chữ quốc ngữ mới thật sự vào đi đời sống xã hội Việt Nam.
 
Công trình sáng tạo tập thể
 
Ai là những người đi tiên phong và có công đầu trong việc định hình chữ quốc ngữ? Vấn đề này đã tốn khá nhiều giấy mực. Có người cho rằng công lớn thuộc về hai giáo sĩ người Bồ Đào Nha là Gaspar do Amiral và Antonio Barbosa (Gs.Ts. Phạm Văn Hường, Đại học Bordeaux, Pháp - Báo Người lao động ngày 27/1/2007). Lại có ý kiến cho rằng, các tác giả đầu tiên là giáo sĩ người Ý Francesco Buzumi cùng hai đồng sự trẻ tuổi hơn của ông là Francesco de Pina và Cristoforo Borri (Léopold Cadière, trong bộ Kỷ yếu những người bạn của cố đô Huế (BAVH- trước đây gọi Đô thành hiếu cổ). Qua một bài nghiên cứu công phu về Cristobori Borri (1931), L. Cadière viết: Ông - tức C. Borri - có để lại qua cuốn trần thuật của mình nhiều trích đoạn quý về các tiểu luận đầu tiên về chữ quốc ngữ, một thứ chữ ra đời sớm hơn so với chữ quốc ngữ của Giáo sĩ Alexandre de Rhodes). Giáo sĩ Francesco Buzumi cùng một giáo sĩ người Bồ tên là Diego Carvalho cập bến Đàng Trong nước Việt lần đầu năm 1615. Thời gian này các nhà truyền giáo phương Tây bị các tướng quân (shogun) cầm quyền tại Nhật Bản cấm cửa và xua đuổi nghiêm ngặt. Giáo đoàn mang tên Chúa Jesus (Dòng Jésuites) đổi hướng sang miền Nam Việt Nam, nơi đây các thương nhân Nhật đã hình thành một cơ sở giao thương thịnh vượng tại Hội An. Mãi đến năm 1624, tức là phải chín năm sau Francesco Buzumi, Alexandre de Rhodes mới có dịp cùng năm giáo sĩ khác cập bến cảng Hội An. 
 
Tuyệt đại bộ phận các nhà nghiên cứu phương Tây cũng như Việt Nam từ trước tới nay không ai quy công đầu cho một nhân vật đơn nhất làm ra tiếng Việt mà đều khẳng định, chữ quốc ngữ là công trình sáng tạo tập thể, mỗi người góp phần một ít; những vị đi trước mở đường, những người kế tiếp hoàn thiện, nâng cao dần. Đầu thế kỷ XX, một nhà sử học Pháp viết: “Cách phiên âm chữ quốc ngữ bằng chữ cái roman là do các giáo sĩ phương Tây nghĩ ra, điều đó chắc rồi, nhưng ai là người đầu tiên thì khó mà biết được” (Charles Maybon, Lịch sử hiện đại Xứ An Nam 1591-1820, Nxb Plon & Nourrit, Paris, 1919). Hình thành chữ quốc ngữ là một quá trình. Hoàn thiện chữ quốc ngữ từ xưa tới nay cũng là một quá trình, quá trình này có thể có lúc tạm ngưng hay chậm lại vì một lý do nào đó chứ không bao giờ kết thúc, bởi ngôn ngữ là một cơ thể sống, đồng hành tiến triển cùng cộng đồng sử dụng nó. 
 
Công lao đặt nền móng cho sự hình thành chữ quốc ngữ chắc chắn là công lao chung của nhiều giáo sĩ và tín đồ Thiên chúa giáo người Bồ Đào Nha, người Tây Ban Nha, người Ý, người Pháp, người Hà Lan... Và tại sao không? Người Việt Nam ta nữa chứ. Bởi, theo thiển nghĩ của chúng tôi, chính người Việt chứ còn ai khác là những ông thầy đầu tiên dạy tiếng Việt cho các giáo sĩ nước ngoài đặt chân lên đất nước mình, cho họ dần dần vươn lên trình độ không chỉ dùng tiếng Việt để giao tiếp, mà còn có thể lên bục thuyết giảng đạo lý bằng tiếng Việt. Và, một khi đã có một số tín đồ bản địa dù ít ỏi tiếp cận được chữ Latinh, thì nhất định những người Việt ấy phải có công góp phần vào việc ghi ra giấy chữ quốc ngữ bằng mẫu tự roman. Người phương Tây ra nước ngoài, nhất là vào thời bành trướng của chủ nghĩa thực dân, không mấy ai tránh được tật kỳ thị người bản địa. Nếu chúng ta tin lời của chính giáo sĩ Alexandre de Rhodes, các nhà truyền giáo người Bồ, người Ý, người Tây Ban Nha đều không muốn nâng một số giáo đồ Việt Nam lên hàng chức sắc. Có nhà sử học đặt vào miệng Alexandre de Rhodes câu nói trứ danh: “Người bản xứ có thể tử vì đạo, tại sao họ không thể làm giáo phẩm?”. Không rõ giáo sĩ Alexandre de Rhodes có thực lòng đánh giá cao người Việt Nam ta đến mức ấy hay không, trên thực tế là phải chờ hơn ba trăm năm, tính từ ngày đội thương thuyền Bồ Đào Nha cập bến Đàng Trong (và cùng với thương nhân, có một số giáo sĩ cùng đi để hành lễ cho họ), và sau hơn hai trăm năm sau khi đạo Thiên chúa bắt đầu truyền vào nước ta, thì Giáo hội Thiên chúa giáo Việt Nam mới có vị linh mục đầu tiên là người Việt. Đã thế, lễ tấn phong Cha Bỉnh được tiến hành năm 1820 tại Lisbonne thủ đô Bồ Đào Nha, chứ không phải tại một nơi nào đó trên nước Pháp hay nước Việt Nam.
 
Tại sao mỗi một Alexandre de Rhodes?
 
Tại sao trong số tập thể tác giả kia, một tên tuổi được nhắc đến, được vinh danh nhiều nhất là giáo sĩ Alexandre de Rhodes, người Pháp? Trước hết, ông là một người đa tài. Linh mục Léopold Cadière nhận định: “Không chỉ là người hành động, Cha A. de Rhodes còn là một nhà nghiên cứu và một nhà văn lớn. Có một điều đến nay (1915) nhiều người chúng ta vẫn chưa được thấy hết, là cái vốn kiến thức của ông về ngôn ngữ học. Cha A. de Rhodes là người sử dụng thành thạo nhiều thứ tiếng” (Leopold Cadière, B.A.V.H. Tập 2, năm 1915). Giáo sư Paul Mus cũng đánh giá cao Alexandre de Rhodes. Ông có đầy đủ tư chất một nhà ngôn ngữ học, thông thạo mười hai thứ tiếng, nhờ đó ông đã “tiếp cận chữ quốc ngữ trên bình diện khoa học. Ông là người có công hoàn chỉnh cách viết chữ quốc ngữ” (Paul Mus, Việt Nam, nghiên cứu xã hội học về một cuộc chiến tranh -1952). Muộn hơn, nhà sử học Jean Lacouture cho rằng, A. de Rhodes được tôn vinh không chỉ tại ông có công cho xuất bản cuốn Từ điển Việt - Bồ - Latinh (dù ông không phải là tác giả) và là người soạn cuốn Ngữ pháp tiếng Việt đầu tiên, mà lý do quan trọng hơn là, “Alexandre de Rhodes nếu không phải là người sáng tạo ra chữ quốc ngữ thì là ông người đầu tiên sử dụng và quảng bá mạnh mẽ thứ chữ ấy” (Jean Lacouture, Các giáo sĩ Dòng Tên -1991-1992).
 
Đến đây xin mở ngoặc để nói một điều. Chắc chúng ta phải ít nhiều thận trọng trước những nhận định trên. Ba học giả vừa nói, những nhà nghiên cứu uyên thâm và đáng kính, đều là người Pháp. Mà nói mạn phép, người Pháp dường như ai cũng có mang ít nhiều “máu Đại Pháp” trong người, họ bao giờ cũng tìm cách tôn vinh đồng bào của mình trước hết và trên hết; đặc biệt rõ từ thế kỷ Thế kỷ Ánh sáng, trở đi. Đấy là chưa tính những trường hợp vì mục đích chính trị. Vào thập niên 1940, khi gốc rễ chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam bắt đầu lung lay trước phong trào cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, mặt khác, chịu sức ép bởi mưu đồ bành trướng của Nhật Bản lăm lăm giương cao ngọn cờ Đại Đông Á nhằm mê hoặc và lôi kéo các dân tộc châu Á đi với mình, nhiều vị cao niên nay tuổi ngoài tám mươi chắc ít nhiều có dịp đọc các cuốn sách bằng tiếng Việt (phần lớn tái bản) được in đẹp và bán giá rẻ nhờ dựa vào ngân sách tài trợ hào phóng của nhà cầm quyền thực dân bỏ ra để xây dựng “Tủ sách Alexandre de Rhodes”. Trong bối cảnh ấy, rất dễ hiểu tại sao hai giáo sĩ phương Tây được tôn vinh nhất ở Đông Dương lui tới vẫn là A Lịch Sơn Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes) và Bỉ Như Bá Đa Lộc (tức Pigneau de Béhaine, Giám mục D’Adran). Giám mục Bá Đa Lộc chính là người phò tá Hoàng tử Cảnh sang Paris cầu viện, giúp chúa Nguyễn Ánh đánh bại nhà Nguyễn Tây Sơn đang lâm vào khủng hoảng, nhằm tiến tới “nhất thống sơn hà”, để rồi một trăm năm sau nữa, toàn bộ sơn hà Việt Nam nằm dưới quyền đô hộ của thực dân Pháp.
 
 (Còn nữa)
 
PHAN QUANG 
(Viết năm 2007, sửa năm 2017)
,
.