10 năm qua, Trung ương Đảng, Chính phủ và đồng bào cả nước luôn quan tâm chỉ đạo, giúp đỡ, hỗ trợ vùng Tây Nguyên. Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, cơ chế đặc thù, đầu tư nhiều nguồn lực giúp các tỉnh Tây Nguyên xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân và chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng.
![]() |
| Mùa về ở thôn Hàng Làng (xã Gung Ré - Di Linh) |
Tổng quan gam màu sáng bức tranh kinh tế
Từ một vùng còn kém phát triển, đến nay, thu nhập bình quân đầu người trên Tây Nguyên so với cả nước được thu hẹp khoảng cách khá nhanh; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện… Điều đó biểu hiện: Tổng chi ngân sách Nhà nước (NSNN) thời kỳ 2001 - 2010 đạt 128 nghìn tỷ đồng; huy động đầu tư toàn xã hội 170,6 nghìn tỷ đồng (tăng 5,5 lần thời kỳ 1990 - 2000), trong đó vốn NSNN 39,5%, vốn DNNN 32,3%, còn lại là các nguồn vốn khác. Từ năm 2007 đến nay, toàn vùng đã trồng mới 91.793 ha cao su, nâng tổng diện tích cao su toàn vùng lên 217.509 ha và cơ bản hoàn thành chỉ tiêu trồng mới 100 ngàn ha cao su theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. 5 tỉnh Tây Nguyên đã giao cho các tổ chức kinh tế, ban quản lý, LLVT và cá nhân quản lý gần 2,2 triệu ha rừng, khoanh nuôi 80.390 ha, trồng các loại rừng 128.410 ha; từng bước sắp xếp lại hệ thống lâm trường quốc doanh.
Với sự quan tâm đầu tư của Trung ương và nỗ lực của các cấp uỷ đảng, chính quyền, đồng bào các dân tộc, vùng Tây Nguyên liên tục duy trì được tốc độ tăng trưởng cao. Giá trị tổng sản phẩm (GDP) năm 2010 tăng 2,8 lần so với năm 2001, đạt mức tăng bình quân 11,9%/năm. Các ngành, lĩnh vực sản xuất phát triển ổn định. Trong đó, nông nghiệp chuyển biến vượt bậc theo hướng mở rộng diện tích và đầu tư thâm canh cây công nghiệp dài ngày có nhu cầu thị trường cao, tạo ra khối lượng hàng hóa lớn có lợi thế cạnh tranh trong tiêu dùng nội địa và xuất khẩu; hình thành một số mô hình nông nghiệp công nghệ cao. Sản xuất lương thực, chăn nuôi gia súc bước đầu phát huy thế mạnh. Kinh tế trang trại phát triển nhanh, từng bước hội nhập theo hướng sản xuất hàng hóa. Đã hoàn thành chương trình trồng mới 100 nghìn ha cao su. Từ năm 2007 đến nay, toàn vùng đã trồng mới 91.793 ha cao su, nâng tổng diện tích cao su toàn vùng lên 217.509 ha và cơ bản hoàn thành chỉ tiêu trồng mới 100 ngàn ha cao su theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Kinh tế lâm nghiệp chuyển từ khai thác gỗ rừng tự nhiên là chính sang trồng mới, khoanh nuôi, giao khoán bảo vệ rừng, kết hợp với khai thác lâm sản, góp phần duy trì tỷ lệ che phủ rừng trên 54%, bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi trường. Sản xuất công nghiệp thay đổi lớn cả về quy mô và chất lượng sản xuất; xuất hiện một số ngành công nghiệp mới (thủy điện, khai khoáng, vật liệu xây dựng, chế biến nông sản xuất khẩu...). Đã phát triển hàng trăm xí nghiệp công nghiệp và nhiều nhà máy thủy điện (tổng công suất 2.100 MW), góp phần đưa tốc độ tăng trưởng công nghiệp bình quân cả thời kỳ đạt 18% và giá trị sản xuất công nghiệp năm 2010 tăng 4,3 lần năm 2001.
Bên cạnh đó, dịch vụ sản xuất, tiêu dùng của nhân dân và các hoạt động thương mại, xuất nhập khẩu, du lịch đều phát triển nhanh; giữ được vai trò chi phối của thành phần kinh tế Nhà nước trong bán buôn các hàng hoá, vật tư chiến lược. Công tác cung ứng hàng hoá cho dân cư vùng sâu, vùng xa có nhiều tiến bộ. Hoạt động xuất nhập khẩu từng bước mở rộng thị trường và tăng dần xuất khẩu trực tiếp. Những năm gần đây, tuy chịu tác động của khủng hoảng kinh tế nhưng kim ngạch xuất khẩu vẫn ở mức cao (năm 2010 đạt gần 1,5 tỷ USD, năm 2011 đạt 1,85 tỷ USD, tăng 6 lần so với 2001)… Tiềm năng du lịch bước đầu được chú ý khai thác, mức doanh thu xã hội từ du lịch tăng bình quân khoảng 15%/năm. Thành phố Đà Lạt tiếp tục là một trung tâm du lịch lớn có hoạt động và doanh thu ngày càng tăng.
Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội có bước phát triển. Hệ thống đường sá đã được đầu tư xây dựng, nâng cấp, hình thành mạng lưới rộng khắp. Tây Nguyên hiện có 1.900 km quốc lộ; 2.039 km đường tỉnh; 2.330 km đường đô thị; 565 km đường chuyên dùng; 4.138 km đường huyện; trên 6.500 km đường xã và hơn 8.500 km đường thôn xóm. Về thủy lợi, đã xây dựng, tu bổ 1.560 công trình hồ chứa, đập dâng và hệ thống kênh mương, nâng năng lực tưới lên gấp ba lần so với năm 2001; xây dựng hàng trăm công trình thủy lợi vừa và nhỏ ở vùng đồng bào DTTS. Đầu tư thích đáng vào hạ tầng đô thị; nâng cấp 2 đô thị loại I, thành lập 2 thành phố, 4 thị xã; phát triển nhanh kết cấu hạ tầng kỹ thuật ở các thành phố, thị xã, thị trấn. Từng bước hiện đại hóa mạng lưới bưu chính viễn thông; hoàn chỉnh lưới điện và hệ thống cấp nước ở các thành phố, thị xã. Quan tâm đầu tư xây dựng hạ tầng nông thôn. Hiện nay, 91% số xã có đường ô tô đến trung tâm đi được cả hai mùa (24,2% đã nhựa hóa). Đã huy động 35 nghìn tỷ đồng xây dựng 6.800 km đường, 15.900 mét cầu, 26.574 mét cống, 311 đập tràn và ngầm. 98% số thôn, buôn có điện lưới quốc gia, 92% số hộ được dùng điện, 68% hộ được dùng nước sạch, 100% số xã đã có trường tiểu học, trường mẫu giáo, trạm xá, phủ sóng phát thanh truyền hình và nối mạng thông tin viễn thông.
Kỳ sau: Chú trọng thực hiện chính sách dân tộc, quan tâm đời sống văn hóa - xã hội
BÌNH NGUYÊN
