Phát triển kinh tế Tây Nguyên đến năm 2020
Để Tây Nguyên phát huy tiềm năng, thế mạnh và phát triển bền vững, thực hiện NQ 10 - NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) vào ngày 17 - 7 - 2002 Ban Chỉ đạo Tây Nguyên được thành lập. Ngày 24 - 10 - 2011, Bộ Chính trị có Kết luận 12 - KL/TW về tiếp tục thực hiện NQ 10-NQ/TW phát triển Tây Nguyên trong thời kỳ 2011 - 2020.
![]() |
| Gia đình ông K' Ber thị trấn Lộc Thắng đang thu hoạch chè. Ảnh Văn Báu |
Mục tiêu phát triển kinh tế vùng đến năm 2020 được Ban Chỉ đạo Tây Nguyên xác định phải tổ chức khai thác có hiệu quả các tiềm năng, thế mạnh; xây dựng Tây Nguyên thành vùng kinh tế trọng điểm, nhất là giai đoạn 2011 - 2015 - bước chuyển rất quan trọng của cả thời kỳ 2011 - 2020; có lực lượng sản xuất phát triển ở mức trung bình của cả nước; có tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế vững chắc; đóng vai trò “đầu tàu” trong khu vực “Tam giác phát triển” Việt Nam - Lào - Campuchia... Theo đó, toàn vùng duy trì tốc độ tăng trưởng trên 14%/năm. Phấn đấu đến năm 2015 đạt giá trị tổng sản phẩm (GDP) gấp đôi năm 2010; giảm tỷ trọng nông - lâm nghiệp trong GDP còn 40% và nâng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng lên 32%, dịch vụ 28%; GDP bình quân đầu người 33,5 triệu đồng (tương đương 1.720 USD), kim ngạch xuất khẩu 2,5 tỷ USD. Tương ứng đến năm 2020, cơ cấu GDP là 35%-34%-31%; GDP bình quân đầu người 50 triệu đồng (2.560 USD); kim ngạch xuất khẩu 4,5 tỷ USD. Thu ngân sách tăng bình quân 25%/năm và từng bước cân đối thu chi ngân sách. Đầu tư phát triển toàn diện nông thôn, sớm đưa nông thôn thoát ra khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu để đi dần vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân lên ngang với mức trung bình của cả nước.
Trong nhiều nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế, thời gian tới, các tỉnh Tây Nguyên cần tập trung cho một số vấn đề cơ bản sau:
Phát huy lợi thế về đất đai, đưa nông nghiệp phát triển theo chiều sâu và đa dạng hóa, trong đó ưu tiên phát triển cây công nghiệp dài ngày. Nghiên cứu xây dựng chính sách đồng bộ về sản xuất, tiêu thụ cà phê; mở rộng các tập đoàn cây trồng, vật nuôi nhiệt đới và một số cây con có nguồn gốc ôn đới ở quy mô thương mại; phát triển mạnh chăn nuôi đại gia súc. Chuyển tăng trưởng từ số lượng sang tăng trưởng về giá trị; gắn nông nghiệp với công nghiệp chế biến và xuất khẩu; bảo đảm an ninh lương thực.
Đẩy mạnh sản xuất kinh doanh tổng hợp nghề rừng, tổ chức khai thác tốt diện tích rừng hiện có, bảo đảm yêu cầu về tái sinh rừng, bảo vệ môi trường, bảo vệ động vật quý hiếm. Nâng độ che phủ rừng lên khoảng 56% vào năm 2015 và 58% vào năm 2020. Nghiên cứu, điều chỉnh, bổ sung và cụ thể hóa các chính sách, pháp luật về rừng; xây dựng hệ thống quản lý rừng theo hình thức lâm nghiệp cộng đồng trên cơ sở giao rừng cho hộ gia đình, nhóm hộ, buôn làng, tạo động lực lâu dài cho người dân tham gia quản lý, bảo vệ, phát triển vốn rừng.
Tập trung phát triển mạnh công nghiệp chế biến nông, lâm sản dựa vào các sản phẩm chủ lực (cao su, cà phê, bông vải, chè, điều, mía, sắn và các sản phẩm từ chăn nuôi). Đầu tư mở rộng mạng lưới nhà máy chế biến cao su, cà phê... theo hướng hiện đại, đạt tầm khu vực và quốc tế. Từng bước đa dạng hóa phương thức đầu tư¬ - kinh doanh, phát triển thủy điện. Nghiên cứu, lựa chọn các phương án để đầu tư phát triển ngành công nghiệp khai khoáng, luyện alumin, điện phân nhôm trở thành ngành công nghiệp mới có hiệu quả kinh tế cao và gắn với bảo vệ môi trường. Phát triển các ngành công nghiệp nhẹ sử dụng lao động và nguyên vật liệu tại chỗ.
Thúc đẩy phát triển thương mại dịch vụ theo hướng đa dạng, nhất là dịch vụ sản xuất, tiêu dùng của nhân dân và hoạt động xuất nhập khẩu. Từng bước hiện đại hóa bưu chính - viễn thông; mở rộng mạng lưới tín dụng ngân hàng, đáp ứng kịp thời các nguồn vốn cho phát triển sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế. Hiện đại hóa công nghệ thanh toán, đưa các sản phẩm dịch vụ đến với doanh nghiệp. Ưu tiên phát triển du lịch để giải quyết việc làm và góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bảo đảm du lịch có vị trí xứng đáng trong cơ cấu kinh tế của vùng.
Thúc đẩy các chương trình hợp tác vùng “Tam giác phát triển”; hình thành các khu thương mại tự do giữa Tây Nguyên với các khu vực thuộc tiểu vùng sông Mê Kông. Tổ chức lại sản xuất, đời sống ở vùng đồng bào DTTS theo hướng phát triển kinh tế hàng hóa trên nền tảng kinh tế nông hộ.
Tập trung giải quyết căn bản vấn đề đất đai, tiếp tục ưu tiên giải quyết đủ đất sản xuất cho các hộ đồng bào DTTS thiếu đất. Nâng cao chất lượng công tác định canh định cư cho đồng bào DTTS tại chỗ và ổn định dân di cư tự do, thúc đẩy phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, giảm áp lực của di cư tự do đối với tài nguyên rừng và đất đai. Giải quyết đủ vốn cho các dự án tái định cư để đến năm 2015 ổn định các thôn làng, cụm dân cư, đưa các vùng dân di cư tự do hòa nhập với sự phát triển của Tây Nguyên.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế, Tây Nguyên cần tập trung vào các giải pháp mang tính đột phá như tăng cường đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; đẩy mạnh thu hút đầu tư; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đổi mới công tác quy hoạch, kế hoạch; tăng cường quản lý nhà nước về tài nguyên môi trường; tiếp tục thực hiện các chính sách đặc thù ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS.
(Tiếp theo và hết)
BÌNH NGUYÊN
