PHÓNG SỰ DỰ THI "LÂM ĐỒNG TRÊN ĐƯỜNG ĐỔI MỚI VÀ PHÁT TRIỂN"
Gỡ "nút thắt" cho ngành Dâu tằm tơ
Cập nhật lúc 09:10, Thứ Tư, 26/04/2017 (GMT+7)
Có lẽ không ngành sản xuất nào chịu cảnh “ba chìm, bảy nổi, chín lênh đênh” như ngành Dâu tằm tơ. Hết khó khăn trong buổi ban đầu, đến thời kỳ “hoàng kim”, rồi “khủng hoảng” và bây giờ, ngành Dâu tằm tơ Việt Nam (DTT VN) đang được “hồi sinh”. Tuy vậy, hiện vẫn còn vương vấn những… “nút thắt”! 
 
Dâu cao sản S7 CB của ông Nguyễn Công Thủy ở xã Đam Bri, TP Bảo Lộc. Ảnh: B.Trưởng
Dâu cao sản S7 CB của ông Nguyễn Công Thủy ở xã Đam Bri, TP Bảo Lộc. Ảnh: B.Trưởng
Nhìn nhận một thực trạng
 
Trao đổi với chúng tôi, ông Đặng Vĩnh Thọ, Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Tổng Công ty DTT VN, Chủ tịch Hiệp hội DTT VN, ghi nhận rằng: “Nghề trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa là nghề truyền thống đã có từ lâu đời ở nước ta, nhưng thực chất vào những năm 1960, trình độ sản xuất vẫn còn rất lạc hậu, chủ yếu là xe tơ thủ công và dệt thủ công. Đến năm 1965, một số xí nghiệp ươm tơ quốc doanh ra đời, được trang bị máy ươm tơ cơ khí của Trung Quốc. Các giống tằm trong giai đoạn này chủ yếu là giống đa hệ, có chiều dài tơ đơn chỉ khoảng 300 mét, nên sản phẩm chủ yếu là tơ cấp E, chỉ có thể dùng làm nguyên liệu để dệt lụa thủ công”. 
 
Cũng theo ông Đặng Vĩnh Thọ, để từng bước hiện đại hóa ngành DTT, vào cuối những năm 1980, Liên hiệp các xí nghiệp DTT VN (sau này là Tổng Công ty DTT VN) đã nhập khẩu một số dãy máy ươm tơ tự động của Hàn Quốc. Đặc biệt là vào đầu những năm 1990, Liên hiệp các xí nghiệp DTT VN đã nhập 11 dãy máy ươm tơ tự động hiện đại nhất thế giới HR3 của Nhật Bản (bằng nguồn vốn ODA của Chính phủ Italia) để chủ động công nghệ ươm tơ cấp cao. Đi đôi với việc thay đổi công nghệ ươm tơ, Liên hiệp các xí nghiệp DTT VN đã liên doanh với Công ty Silk Textile Industries Pte. LTD của Singapore để thành lập Liên doanh dệt tơ tằm Bảo Lộc (Visintex) và chuyển giao thiết bị, công nghệ của Nhật Bản. Nhờ vậy, ngành DTT VN đã hoàn toàn chủ động công nghệ xe, dệt các sản phẩm tơ lụa được khách hàng trên thế giới chấp nhận, kể cả những khách hàng “khó tính” như Nhật Bản, Pháp, Italia… 
 
Tuy vậy, thời kỳ “kim hoàng” của ngành DTT VN chỉ tồn tại được một thời gian. Đến những năm cuối thập kỷ 90 (thế kỷ 20) và đầu những năm 2000, giá tơ lụa trên thị trường thế giới giảm sút 40 - 50%. Ngành sản xuất, kinh doanh DTT thế giới bắt đầu gặp khó khăn. Còn ngành DTT VN bước vào thời kỳ “khủng hoảng”, suy thoái nghiêm trọng. Diện tích dâu cả nước giảm sút nhanh chóng, từ 38.000 ha (năm 1994) còn 10.000 ha (năm 2000) và sau đó tiếp tục giảm. Hàng vạn lao động nông nghiệp trồng dâu, nuôi tằm phải tìm nghề khác để kiếm sống. Công nhân các nhà máy ươm tơ, dệt lụa không có việc làm. Các doanh nghiệp Nhà nước của Tổng Công ty DDT VN rơi vào tình trạng phá sản, nhiều doanh nghiệp phải giải thể. Các doanh nghiệp tư nhân cũng phải thu hẹp quy mô, sản xuất cầm chừng, ngừng hoạt động hoặc giải thể, hoặc chuyển sang sản xuất, kinh doanh các ngành nghề khác. Vai trò của Hiệp hội DTT VN lúc đó cũng bị lu mờ dần!
 
Đến năm 2007, giá tơ lụa thế giới bắt đầu có xu hướng phục hồi, ngành DTT VN từng bước được khôi phục và phát triển. Nhà nước đã tiến hành cổ phần hóa Tổng Công ty DTT VN và tổ chức, sắp xếp, tái cơ cấu sản xuất ngành DTT trong cả nước. Riêng ở tỉnh Quảng Nam có một cách làm rất riêng. Ông Lê Thái Vũ, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Tơ lụa Quảng Nam cho chúng tôi biết: “Vào thời kỳ hoàng kim, chúng tôi có tới 1.000 lao động. Nhưng đến khi khủng hoảng, chúng tôi tiến hành cổ phần hóa và chuyển sang hình thức hoạt động mới, là vừa sản xuất DTT vừa làm dịch vụ du lịch và hình thành nên Làng Lụa Hội An. Làng lụa Hội An hiện là một “địa chỉ” trở nên quen thuộc, thu hút, phục vụ nhiều du khách và bảo tồn, gìn giữ nghề truyền thống trong thời kỳ hội nhập thương mại thế giới”.   
 
Trong thời gian hồi phục, ngành DTT VN đã tạo nên những “nền tảng” nhất định. Ông Lê Quang Tú, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu DTT Trung ương cho hay: “Ngành DTT đã có những thành quả đáng ghi nhận về giống dâu, giống tằm và quy trình công nghệ nuôi tằm. Ở một số vùng tại các tỉnh phía Bắc, bà con đã trồng các giống dâu lai mới (trồng bằng hạt), như VH 15, VH 17, GQ 2 và các tỉnh phía Nam trồng (bằng hom) các giống S7 CB, VA 201. Đây là những giống dâu cho năng suất cao (25 - 35 tấn lá/1 ha). Về giống tằm, các trung tâm nghiên cứu thực nghiệm đã chọn tạo được những giống tằm lưỡng hệ kén trắng GQ 2218, GQ 9312, TN 1278, BT 1218, LĐ 09… Các giống tằm này đã có bước tiến vượt bậc về sức sống, năng suất, phẩm chất tơ kén (chiều dài tơ đạt bình quân trên 1.000 m, tơ đạt cấp 2A trở lên). Còn về quy trình kỹ thuật, bà con nông dân đã phổ biến nuôi tằm con tập trung và nuôi tằm lớn trên nền nhà; sử dụng né gỗ để tằm làm tổ và dùng máy (bàn) gỡ kén… Nhờ vậy, hiệu quả kinh tế tăng hơn 50 - 65% so với trước đây”. 
 
Nhờ có được giống mới đem lại hiệu quả cao, nông dân đã tích cực phục hồi nghề trồng dâu, nuôi tằm. Cả nước hiện có vài ngàn ha dâu và trên 200 hộ nuôi tằm con tập trung. Trong đó, Lâm Đồng có gần 5.000 ha dâu và 150 hộ nuôi tằm con tập trung. Nhờ thay đổi giống dâu, giống tằm và áp dụng, cải tiến quy trình nuôi, nên hiện nay, thu nhập của nông dân bình quân trên 1 ha dâu đạt 250 triệu đồng/năm. Cá biệt, có những hộ đạt được 400 triệu đồng/năm. Còn về công nghiệp, cả nước hiện có 40 dãy máy ươm tơ tự động hoạt động. Trong đó, chủ yếu là tập trung ở tỉnh Lâm Đồng (38 dãy máy). Dự kiến trong năm 2017, ngành DTT sẽ lắp đặt thêm 10 dãy máy.
 
Dệt lụa (Công ty CP Tơ lụa Đông Lâm ở Khu CN Lộc Sơn, TP Bảo Lộc). Ảnh: B.T
Dệt lụa (Công ty CP Tơ lụa Đông Lâm ở Khu CN Lộc Sơn, TP Bảo Lộc). Ảnh: B.T
Có được thời cơ, nhưng còn lắm thách thức!
 
Theo ghi nhận của các chuyên gia, nhu cầu tơ lụa và các sản phẩm từ ngành DTT trên thế giới và trong nước ngày càng gia tăng theo nhịp độ phát triển kinh tế, xã hội. Ở các nước phát triển, người tiêu dùng có khuynh hướng sử dụng các sản phẩm may mặc tự nhiên. Trong đó, tơ tằm là sản phẩm được ưa chuộng. Các nước Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan… có truyền thống sử dụng vải lụa tơ tằm thì nhu cầu không giảm. Các nước châu Âu, Bắc Mỹ thì nhu cầu ngày càng tăng. Trong khi đó, nguồn cung cấp các sản phẩm tơ lụa có xu hướng giảm. Các nước Nhật Bản, Hàn Quốc… có truyền thống nghề DTT, nhưng nay sản xuất rất ít. Ngay cả Trung Quốc, nước đứng đầu thế giới về sản xuất DTT, trong những năm gần đây, sản lượng cũng giảm sút. Còn thị trường tơ lụa trong nước cũng tăng dần, vì đời sống của người dân đã được cải thiện. 
 
Mặc dù có được thời cơ này, nhưng ngành DTT VN vẫn còn lắm những thách thức. Thách thức lớn nhất là phải chịu áp lực cạnh tranh với thị trường và giá cả. Mặt khác, hiện nay, ngành DTT phải nhập khẩu mỗi năm hơn 1.000 tấn tơ từ Trung Quốc, Brazin… để làm gia công rồi xuất khẩu hàng hóa sang các nước Nhật Bản, Ấn độ, Pháp, Italia… 
 
Ông Phạm Phú Bình, Giám đốc Công ty TNHH Tơ tằm Phú Cường (xã Đại Lào, TP Bảo Lộc), người có kinh nghiệm lâu năm trong nghề DDT cho biết: “Hiện nay, ngành DTT có bước phục hồi, phát triển nhưng không cân đối, do thiếu quy hoạch. Trong thời gian gần đây, chúng ta đang “nhập” ồ ạt máy móc “dư” của Trung Quốc (máy “dư” là do áp lực về thuế xuất nhập khẩu, các doanh nghiệp của Trung Quốc chuyển sang “đầu tư” sản xuất tại Việt Nam - PV). Do thiếu nguyên liệu, các nhà máy ươm tơ tự động đã tùy tiện nâng giá kén lên 170 - 180 ngàn đồng/1 kg. Trước tình huống giá kén cao chưa từng có, một số nhà máy ươm tơ gặp phải khó khăn, không đủ sức cạnh tranh, kinh doanh thua lỗ và có nguy cơ sẽ phải đóng cửa!”. Do vậy, ông Bình đã kiến nghị: “Nhà nước cần phải có quy hoạch, xem xét kỹ lưỡng trước khi cấp giấy phép đầu tư”. 
 
Trước thách thức nói trên, có chuyên gia cho rằng, nếu không có giải pháp hợp lý, thì trong tương lai không xa sẽ có nguy cơ tái diễn một cuộc “khủng hoảng” trong ngành DTT VN. Bởi lẽ, trong lúc các nhà máy ươm tơ “đóng cửa”, do giá kén lên cao, người dân chắc chắn sẽ “ồ ạt” trồng dâu để nuôi tằm. Rồi đến một lúc nào đó, giá kén buộc phải hạ, các nhà máy muốn phục hồi trở lại cũng phải mất một khoảng thời gian! Như thế, “Ngay từ bây giờ, nếu không có chiến lược phát triển ngành DTT, thì 10 - 15 năm nữa, các doanh nghiệp (nhà máy ươm tơ, dệt lụa - PV) trong ngành DTT VN sẽ không có nguyên liệu để sản xuất” - theo nhận định của ông Đặng Vĩnh Thọ. 
 
 Lâm Đồng, được xem là “thủ phủ” của ngành DTT VN (sản lượng tơ lụa chiếm trên 70% của cả nước), hiện tại đã có 15 doanh nghiệp ươm tơ tự động, mỗi ngày sản xuất trên 2 tấn tơ và hơn 20 cơ sở ươm tơ cơ khí, mỗi ngày sản xuất gần 1 tấn tơ. Tuy nhiên, tất cả các doanh nghiệp, cơ sở đều không có “tiếng nói chung”, mạnh ai nấy làm, tranh mua tranh bán, làm cho thị trường trở nên rối ren, không ổn định.
       
Cần gỡ những… “nút thắt”! 
 
Theo nhiều chuyên gia, trong quá trình phục hồi, với cách làm như hiện nay thì ngành DTT VN bước đầu đã có những tín hiệu rất sáng sủa. Tuy vậy, hiện nay vẫn còn những “nút thắt” cần được tháo gỡ. 
 
Ông Nguyễn Văn, nguyên Tổng Giám đốc Liên hiệp các xí nghiệp DTT VN, nguyên Chủ tịch Hiệp hội DTT VN cho chúng tôi hay rằng: “Nút thắt quan trọng nhất hiện nay là trứng giống tằm. Nếu tháo gỡ được nút thắt này thì ngành DTT VN sẽ phát triển”. 
 
Bởi theo ông Văn: “Các doanh nghiệp hiện đang tranh nhau với giá kén tằm. Nếu cứ “chen lấn” riết như thế này thì sẽ… “đứt” hơi và không biết ngành DTT sẽ đi về đâu? Nói là ngành DTT VN, nhưng theo tôi chủ yếu là ở vùng đất Lâm Đồng, vì thiên nhiên ở đây quá ưu đãi cho ngành nghề này. Do vậy, Lâm Đồng phải tập trung giải quyết trứng giống tằm và vẫn phải tiếp tục tổ chức nuôi tằm con tập trung để cung cấp cho nông dân. Nhưng điều tốt nhất là làm sao phải nhập cho được trứng giống tằm cấp 1 (từ Trung Quốc bằng đường chính ngạch) để chủ động sản xuất trứng giống cấp 2 và tổ chức nuôi tằm con tập trung. Lúc ấy, chúng ta mới hoàn toàn có khả năng nuôi tằm, sản xuất được kén có chiều dài 1.000 - 1.200 mét”. Và cũng theo ông Văn: “Việc này chỉ có Hiệp hội DTT VN mới có thể làm được!”.
 
Giải pháp mà ông Nguyễn Văn đề cập là tối ưu, nhưng ngành DTT VN chưa thể thực hiện được. Theo tân Chủ tịch Hiệp hội DTT VN Đặng Vĩnh Thọ: “Trứng giống tằm đang là vấn đề nan giải của ngành DTT hiện nay. Trước mắt, Hiệp hội sẽ đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, UBND tỉnh và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Lâm Đồng hỗ trợ cho ngành DTT VN nhập giống tằm cấp 2 từ Trung Quốc (theo đường chính ngạch), rồi tổ chức nuôi tằm con tập trung và cung cấp tằm giống cho nông dân Lâm Đồng và các tỉnh lân cận. Việc cung cấp trứng giống tằm đang còn bỏ ngỏ, không một doanh nghiệp nào đứng ra làm dịch vụ này. Hiện chỉ có một vài tư nhân riêng lẻ nhập trứng tằm của Trung Quốc (không rõ nguồn gốc) qua con đường tiểu ngạch, không được kiểm dịch, người nuôi tằm gặp hệ số rủi ro cao”. 
 
Còn theo ông Hoàng Sỹ Bích, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Lâm Đồng: “Nút thắt” mà Lâm Đồng đã tháo gỡ là năm 2007, UBND tỉnh đã phê duyệt quy hoạch đến năm 2020 sẽ phát triển diện tích 8.000 ha dâu và định hướng các vùng sản xuất nguyên liệu cung cấp cho các nhà máy. Hiện tại, diện tích dâu đã phục hồi được gần 5.000 ha. Vấn đề còn lại là “nút thắt” về trứng tằm giống. Sở cũng đã lập Đề án từ năm 2007, nhưng đây là vấn đề khó. Sở sẽ cùng với Hiệp hội DTT VN, các doanh nghiệp và nông dân tập trung tháo gỡ, vì hiện nay có tới 80% trứng giống tằm phải nhập từ Trung Quốc bằng con đường tiểu ngạch. 
 
Trong thời kỳ hội nhập, ngành DTT VN nói chung và Lâm Đồng nói riêng đã có bước phục hồi và có được thời cơ để phát triển. Tuy nhiên, ngành DTT cũng đang đứng trước những thách thức lớn, do sự cạnh tranh khốc liệt của thị trường thế giới và trong nước. Trước tình hình sôi động này, Hiệp hội DTT VN đang “vào cuộc” để tập hợp các thành viên trong Hiệp hội liên kết, phát huy tiềm năng của ngành trong cả nước; kiến nghị với Đảng và Nhà nước về những chủ trương, chính sách để phát triển ngành DTT VN nhằm xây dựng chuỗi sản xuất hàng hóa đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Hiệp hội sẽ cùng với thành phố Bảo Lộc tiếp tục khẳng định, quảng bá và phát triển thương hiệu Tơ lụa Bảo Lộc (vừa được Cục Sở hữu Trí tuệ của Bộ Khoa học và Công nghệ công nhận) góp phần nâng cao giá trị Tơ lụa Việt Nam. 
 
BÙI TRƯỞNG
,
.