Mật ngọt sầu riêng
Cập nhật lúc 09:50, Thứ Năm, 03/08/2017 (GMT+7)
Những năm gần đây, kinh tế xã Quốc Oai phát triển mạnh mẽ, bộ mặt xã có nhiều thay đổi, nhiều căn nhà kiến trúc đẹp mọc lên san sát, và đặc biệt nổi lên những tấm gương lao động sản xuất giỏi, trong đó có anh Nguyễn Hữu Sáu, hiện sinh sống tại Thôn 3, xã Quốc Oai, huyện Đạ Tẻh. 
 
Anh Nguyễn Hữu Sáu trong vườn sầu riêng của gia đình. Ảnh: D.Lưu
Anh Nguyễn Hữu Sáu trong vườn sầu riêng của gia đình. Ảnh: D.Lưu
Tôi tìm tới nhà anh vào một buổi chiều, biết tôi có ý định thăm vườn trại của gia đình, anh vui vẻ nhận lời đưa đi và vào phòng trong mang ra hai cái nón vải, đưa tôi một cái, dắt chiếc xe máy ra, bảo tôi lên xe. Anh chở tôi theo một lối mòn nhỏ ngay sau vườn nhà. Ra khỏi khu vườn, chúng tôi vượt qua cây cầu gỗ rộng chừng hai mét bắc qua một con suối lớn. (Cây cầu do anh tự thiết kế và xây dựng, bởi bên kia suối là một diện tích vườn lên đến cả trăm héc-ta của bà con). Khi chưa có cây cầu, vào mùa mưa lũ, việc đi lại, lao động sản xuất và vận chuyển nông sản qua suối bằng thuyền, bè rất nguy hiểm. Sau nhiều ngày suy nghĩ, anh đã quyết định vận động những hộ có vườn bên suối đóng góp để xây dựng, đó là vào năm 2000 và gia đình anh đã góp 5 triệu đồng. Cây cầu ra đời trong niềm vui mừng của bà con. Từ đó, việc đi lại, lao động sản xuất, vận chuyển nông sản đã trở nên thuận tiện.
 
Qua khỏi cây cầu bắc qua con suối rất đẹp, chiếc xe gầm lên đưa chúng tôi vượt con dốc trơn trượt lên đồi. 
 
Mở ra trước mắt tôi là bạt ngàn màu xanh của những vườn điều, cà phê và sầu riêng. Sầu riêng đang vào mùa thu hoạch, cây nào cũng sai lúc lỉu. 
 
Anh đưa tôi đi thăm toàn bộ khu vườn của gia đình. Chúng tôi vừa đi vừa trò chuyện…
 
- Được biết, anh là người chuyển đổi từ cây lúa rẫy sang cây công nghiệp đầu tiên ở xã Quốc Oai? 
 
Nghe tôi hỏi, anh gật đầu xác nhận rồi thủng thẳng kể cho tôi nghe: Xã Quốc Oai những ngày đầu anh mới đến, đa phần cuộc sống của người dân còn muôn vàn khó khăn về vật chất lẫn tinh thần. Quốc Oai thuộc xã vùng sâu, rất xa trung tâm huyện. Con đường trục chính của xã khi ấy chỉ là đường của đoàn khai thác vận chuyển gỗ, được máy ủi gạt qua gốc cây, ụ mối để cho xe khai thác chạy. Xe chạy lâu rồi thành đường. Do xe chở gỗ có tải trọng rất lớn từ ba đến bốn mươi tấn chạy suốt ngày khiến đường lồi lõm gập ghềnh. Nắng thì bụi mù mịt, mưa thì sình lầy nhão nhoẹt trơn trượt nên đi lại gặp muôn vàn khó khăn. Bệnh sốt rét hoành hành dữ dội. Người dân trong xã không ai không bị bệnh sốt rét “hỏi thăm”, gia đình anh cũng không ngoại lệ. Sản xuất thì độc canh cây lúa nương, một năm chỉ có một vụ, sáu tháng mới được thu mà năng suất lại rất thấp. 1.000 m2 chỉ đạt khoảng 300 kg thóc. Những năm ấy, cả gia đình sáu miệng ăn lâm vào cảnh bữa đói bữa no. Kiếm gạo cho đủ ăn trong năm đã khó, những khi bệnh tật đau ốm không có tiền chạy chữa phải vay mượn bà con rồi lại lần hồi trả nợ. Những năm ấy anh lại hay đau bệnh. Bệnh đau dạ dày, viêm xoang, sốt rét liên tục hành hạ làm sức khỏe của anh suy giảm nghiêm trọng. Anh đã phải đi rất nhiều bệnh viện từ huyện tới trung ương để chạy chữa gây tốn kém tiền bạc và mất rất nhiều thời gian. Trong hoàn cảnh kinh tế quá khó khăn cực khổ, nhiều khi nản chí anh chỉ muốn đưa vợ và con trở về quê hoặc tìm tới một thị trấn nào đó buôn bán tránh xa nơi rừng thiêng nước độc cho bớt cực. Nhưng anh vốn xuất thân từ làm nông, khi ở quê do không đủ đất canh tác mới dẫn tới đói nghèo. Nay vào vùng kinh tế mới, đất canh tác có dư không lẽ chịu bó tay. Qua nhiều đêm trăn trở, anh hạ quyết tâm phải làm một cái gì đó, thay đổi một điều gì đó nhằm cải thiện cuộc sống nếu không sẽ không thể bám trụ được trên vùng quê mới và không thể thoát được nghèo. Nghĩ được khắc làm được. 
 
Với trí tuệ và bản lĩnh của mình, anh đã mạnh dạn chuyển đổi từ cây lúa nương sang trồng cây công nghiệp. Quỹ đất ban đầu của gia đình là 8.000 m2, anh dùng một phần để xuống giống cây điều, diện tích còn lại vẫn tỉa lúa và bắp để lấy ngắn nuôi dài. Ba năm sau cây điều cho trái, anh đã nhìn thấy tương lai và quyết tâm phát triển thêm diện tích. Trước đó, gia đình anh được chia mấy héc-ta đất rừng nghèo nhưng lại cách trở bởi một con suối lớn. Vào mùa mưa nước suối cuồn cuộn, qua lại bằng thuyền, bè cũng rất nguy hiểm. Nhiều hộ dân được chia đất ở khu vực ấy đều bỏ hoang không hộ nào dám qua suối để làm. Với quyết tâm vượt khó, năm 1992 anh động viên vợ, con hàng ngày vượt suối bằng bè, bắt tay vào phát rừng làm rẫy. Trải qua gần một năm cực nhọc mưa nắng, gia đình anh đã có được gần 50.000 m2 đất canh tác. Toàn bộ diện tích đất có được, một phần anh xuống giống điều, một phần trồng sầu riêng. Xuống xong cây giống là thời gian dài chăm sóc và chờ đợi trong sự lo âu. 
 
Sáu năm sau, khi cây cho thu hoạch đại trà nhưng năng suất rất thấp do chưa biết vận dụng khoa học vào sản xuất. 
 
Được sự quan tâm của Đảng, các cơ quan chính quyền và tổ chức hội nông dân đã tổ chức các lớp chuyển giao khoa học kỹ thuật về trồng trọt, chăn nuôi, định hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với thực tế địa phương. Không bỏ lỡ cơ hội, anh tham gia tất cả các lớp học ấy. Ngoài ra, anh còn tìm tòi, học hỏi kỹ thuật ghép cây, cải tạo các giống cây có chất lượng thấp sang các loại cây có năng suất chất lượng cao. Từ đó, vườn cây của gia đình, cả sầu riêng và cây điều đều đã cho chất lượng và năng suất rất cao.
 
Với những kết quả đạt được, khu vườn của anh là mô hình điểm để bà con trong xã nhân rộng làm theo. Chỉ mấy năm sau, toàn bộ diện tích cả trăm héc-ta của bà con bên suối trước đó bỏ hoang nay đã phủ một màu xanh bạt ngàn của cà phê, điều và sầu riêng. Những năm gần đây khi cây điều, cà phê, sầu riêng vào thu hoạch đại trà, do thời tiết không thuận lợi nên bệnh dịch bùng phát, điển hình là bệnh thán thư, sâu đục thân, ruồi vàng và bọ xít phá hoại, nhiều diện tích thất thu, riêng vườn của anh không bị nhiễm bệnh, vẫn bảo đảm năng suất ổn định. Trung bình một héc-ta điều đạt khoảng 3,5 tấn, trong khi các vườn của bà con ở xã và toàn huyện chỉ đạt chừng 50-70 kg/ha. Vườn sầu riêng của anh không chỉ sai nhúc mà trái rất đều nên bán giá cao hơn sầu riêng của các hộ khác. Theo anh chia sẻ: Trước khi trồng cây giống phải tạo bầu cao thay vì trồng thẳng xuống mặt vườn. Cây đạt chừng 6 tuổi, khi trổ bông chỉ chọn chừng 25-30 chùm bông thật đẹp để lại, còn đâu ngắt bỏ. Mỗi chùm bông chỉ giữ lại 1 đến 2 trái thì chất lượng sẽ cao. Về phòng bệnh, sau thu hoạch là thời kỳ sức khỏe của cây rất yếu, đó là cơ hội để sâu bệnh tấn công nên phải kiểm tra thường xuyên, có dấu hiệu nhiễm bệnh là xịt thuốc ngay và phải xịt thuốc phòng định kỳ vào mỗi cuối mùa khô, đầu mùa mưa. 
 
Bước vào vườn sầu riêng rộng 3,5 héc-ta của Phúc, con trai đầu của anh, tôi không khỏi ngỡ ngàng, trên mỗi cây đều cho từ 20 tới 40 trái. Đó là của hồi môn anh dành cho cậu con trai đã lập gia đình khi cho ở riêng.
 
Vẫn theo anh nói, muốn cây cho năng suất cao thì việc tỉa cành, tạo tán là vô cùng quan trọng và việc đó phải làm thường xuyên.
 
Nghe tôi hỏi doanh thu hàng năm của gia đình, anh nói: Thu nhập sau khi trừ chi phí trung bình mỗi năm đạt 600 đến 800 triệu đồng. 
 
Ngoài cây cho trái, anh còn một khu vườn trồng cây lấy gỗ. Hiện tại anh có 200 cây Dầu và Sao 17 năm tuổi, đường kính gốc mỗi cây khoảng 0,40 m.
 
Với sự đam mê, cần mẫn, sáng tạo và bản lĩnh, anh đã thành công trên con đường làm giàu chính đáng của mình. Chính từ những thành công của anh, nhiều bà con trong xã tìm đến học hỏi kinh nghiệm. Anh không ngần ngại, sẵn sàng chuyển giao kỹ thuật, hướng dẫn bà con cách làm và chăm sóc cây trồng.
 
Hưởng ứng phong trào thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững do hội nông dân các cấp phát động, gia đình anh đã tham gia rất tích cực. Để giúp bà con về cây giống, anh đã mạnh dạn đầu tư 0,2 héc-ta vườn ươm, hàng năm xuất ra thị trường khoảng 10.000 cây điều và sầu riêng ghép. Bên cạnh đó, anh còn giúp đỡ những hội viên nông dân có hoàn cảnh khó khăn về vốn, cây giống để đầu tư vào sản xuất nhằm vươn lên thoát nghèo hướng tới làm giàu chính đáng. Giai đoạn 2012 - 2016 anh đã bán giống điều và sầu riêng ghép trợ giá cho bà con trong huyện với tổng số tiền là 44 triệu đồng so với giá thị trường. Anh còn tổ chức, hướng dẫn chuyển giao khoa học kỹ thuật ghép điều và sầu riêng cho hàng ngàn lượt người đến học. Cho mượn hơn 400 triệu đồng không lấy lãi để giúp các hộ hội viên nông dân có hoàn cảnh khó khăn đầu tư vào sản xuất. 
 
Để thuận tiện cho việc đi lại sản xuất, thu hoạch nông sản cho bà con, cuối năm 2016 Ủy ban Nhân dân xã Quốc Oai quyết định mở một con đường bên suối. Con đường chạy cắt qua vườn của gia đình, anh không ngần ngại hiến toàn bộ diện tích đất khoảng 1.500 m2 và chặt bỏ 40 cây điều 13 năm tuổi để tạo điều kiện thuận lợi cho việc làm đường. Với những việc làm thiết thực ấy, anh được các đồng chí lãnh đạo xã hết mực kính trọng, bà con tin yêu.
 
Từ kết quả đạt được trong sản xuất, những việc làm hết sức nhân văn trong suốt thời gian qua, gia đình anh đã được Trung ương Hội Nông dân Việt Nam công nhận là hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi cấp Trung ương giai đoạn 2012-2016. Hội Nông dân tỉnh Lâm Đồng công nhận là hộ sản xuất kinh doanh giỏi cấp tỉnh. Được Bộ Nông nghiệp và UBND tỉnh Lâm Đồng tặng bằng khen. Hàng năm, gia đình anh đều được công nhận là gia đình văn hóa.
 
Tiễn tôi ra cửa anh còn nói với tôi những dự định trong năm tới: Tận dụng lượng cỏ rất tốt dưới chân trong vườn sầu riêng, anh sẽ phát triển thêm bầy thỏ và đẩy mạnh tăng đàn bầy gà Đông Tảo. Hiện tại, trong khu chuồng của anh đã có 30 chú gà thuần giống, mới chỉ là gà tơ nhưng mỗi con cũng đã đạt trọng lượng từ 4 đến 5 kg.
 
Dáng người tầm thước, vẻ bề ngoài mộc mạc, xù xì đúng chất một lão nông, nhưng nụ cười luôn nở trên môi và một tấm lòng cởi mở nhân hậu, tôi bỗng liên tưởng anh với trái sầu riêng. Cũng với vẻ bề ngoài xù xì, gai góc nhưng ẩn chứa bên trong là mật ngọt.
 
Ghi chép: DUY LƯU
,
.