TIẾN TỚI TUẦN VĂN HÓA TRÀ VÀ TƠ LỤA LÂM ĐỒNG 2017
"Hồi sinh" vùng đất dâu tằm
Cập nhật lúc 08:34, Thứ Ba, 07/11/2017 (GMT+7)
Nếu so sánh 300 ha dâu hiện có của TP Bảo Lộc với diện tích 3.000 ha vào thời hoàn kim trước đây thì con số này chẳng “thấm” vào đâu, đó là chưa nói tới  5.000 ha dâu của toàn tỉnh. Thế nhưng, sự “hồi sinh” của cây dâu, con tằm tại vùng đất từng được mệnh danh là thủ phủ dâu tằm tơ của cả nước lại có một ý nghĩa rất quan trọng, bởi Bảo Lộc là nơi tập trung phần lớn nhà máy se tơ, dệt lụa của cả nước  nên việc hình thành vùng nguyên liệu gắn liền với sản xuất, chế biến sẽ góp phần tạo sự phát triển bền vững nơi đây.  
 
Né gỗ thay thế cho né tre giúp chất lượng kén tằm tăng cao và giảm công gỡ kén khi thu hoạch. Ảnh: H.S
Né gỗ thay thế cho né tre giúp chất lượng kén tằm tăng cao và giảm công gỡ kén khi thu hoạch. Ảnh: H.S

Thuê đất trồng dâu
 
Xã Đam Bri là nơi từng tập trung diện tích dâu tằm lớn của Bảo Lộc với sự nổi danh của Nông trường dâu tằm Kohinda. Cái tên Kohinda đã gắn bó với nhiều người đi kinh tế mới vào vùng đất này lập nghiệp. Họ làm công nhân cho nông trường, nhận khoán đất đai để trồng dâu nuôi tằm. Họ từng ăn nên làm ra với cây dâu, con tằm và rồi cũng sạt nghiệp vì chúng. Một khoảng thời gian dài hơn 10 năm, từ năm 1990 đến năm 2000, người dân nơi đây đã xa lánh ngành nghề từng gắn bó với mình hàng chục năm trước. Từ 3.000 ha dâu, có thời điểm, diện tích này giảm xuống chỉ còn khoảng 100 ha. Người dân chặt phá dâu để chuyển đổi sang một số loại cây trồng khác. Trong khoảng 5 năm trở lại đây, giá kén tăng cao và ổn định đã làm cho diện tích dâu dần tăng trở lại. Trồng dâu nuôi tằm đang trở thành ngành nghề nóng bởi đem lại nguồn thu nhập rất cao cho người nông dân. 
 
27 năm rời vùng đất Thái Bình vào xã Đam Bri lập nghiệp, vợ chồng ông Trần Xuân Khánh và Phạm Thị Hà (Thôn 10, xã Đam Bri) cũng đã có nhiều thăng trầm theo từng bước thăng trầm của nghề trồng dâu nuôi tằm. Nông trường Kohinda giải thể, ông Khánh từ một công nhân của Nông trường cũng về vườn trồng chè, cà phê. Vài năm trở lại đây, vợ chồng ông đã bắt đầu quay lại trồng dâu, nuôi tằm. Với 3 sào đất trồng dâu, bình quân mỗi tháng ông nuôi từ 1,5 đến 2 hộp tằm. Từ đầu năm đến nay, gia đình ông Khánh đã thu về được 150 triệu đồng. Với khoảng 4 -5 lứa tằm nuôi vào từ nay đến cuối năm, gia đình ông còn thu thêm một khoản kha khá. Ông Khánh chia sẻ: Trồng dâu nuôi tằm bây giờ đã nhàn hơn trước nhờ có nhiều công cụ hỗ trợ như: Máy băm lá dâu, máy dập kén, né gỗ và nuôi dưới nền nhà… Nhờ đó, công lao động ở tất cả các khâu đều giảm, người trồng dâu nuôi tằm thu lợi cao hơn. 
 
Bà Mai Thị Phượng, Chủ tịch Hội Nông dân xã Đam Bri, vừa dẫn chúng tôi đến các gia đình trồng dâu nuôi tằm có tiếng ở xã vừa khoe hiệu quả mà nghề này đem lại với niềm tự hào. 
 
Theo tính toán của bà Phượng, với 1 ha dâu, bình quân mỗi tháng người nông dân có thể nuôi 3 hộp tằm và sản lượng kén thu được khoảng 1,8 tạ. Với giá bán 160.000đ/kg kén như hiện tại thì đem lại nguồn thu nhập gần 30 triệu đồng. 
 
Sau khi trừ chi phí về giống tằm, nhân công thì mỗi ha dâu cũng đem về lợi nhuận khoảng 25 triệu đồng/tháng. Bình quân mỗi năm nuôi được 10 tháng thì con số này là 250 triệu đồng/năm. 
 
Hiện tại, do nhu cầu nuôi tằm tăng cao nên nhiều gia đình không đủ đất trồng dâu đã đi thuê đất tại một số vùng lân cận. Ngoài 5 sào dâu hiện có, bà Lương Thị Liên (Thôn 8, xã Đam Bri) đang thuê thêm 4 sào đất để trồng dâu tại xã Lộc Tân (huyện Bảo Lâm) với giá 3 triệu đồng/năm. Bà chia sẻ: Thời gian gần đây, tôi phá bớt cà phê và thuê thêm đất để trồng dâu nuôi tằm. Nuôi heo thua lỗ quá, may mà còn có dâu tằm nên cũng tạm ổn. Chồng đi làm xa nên tôi phải thuê thêm lao động để trồng gần 1 ha dâu, nuôi bình quân 3 hộp tằm/tháng. Đối với diện tích dâu thuê ở xa nhà gần 10 cây số, sau khi thu hái, tôi thuê xe chở về. Trồng dâu nuôi tằm hiện cho thu nhập khá cao, bình quân 1 lao động có thể thu nhập hơn 10 triệu đồng/tháng nên sắp tới, tôi sẽ mở rộng thêm diện tích trồng dâu và sản xuất tằm con. 
 
Nếu như trước đây, người nông dân phải mua trứng tằm về tự băng tằm con để nuôi với mức độ rủi ro cao thì hiện tại họ chỉ mua tằm con tuổi 3 từ các hộ nuôi tằm con tập trung về nuôi. Việc này giúp giảm thời gian nuôi tằm xuống còn gần một nửa so với trước đây, chỉ còn từ 15 đến 20 ngày. Mức độ an toàn và sản lượng kén cũng cao hơn hẳn vì tằm khỏe, ít dịch bệnh. Bà Vương Thị Thu (Thôn 10, xã Đam Bri)chia sẻ: Nuôi tằm tuổi 3 mà gặp lứa tốt thì mỗi hộp có thể thu được 60 - 65 kg kén, bán được gần 10 triệu đồng. Sau khi trừ tiền giống cộng với phân tro, công chăm sóc thì nông dân cũng còn thu nhập rất khá sau hơn nửa tháng nuôi. 
 
Bị động giống tằm
 
Lẽ dĩ nhiên, cây dâu hiện tại không phải là cây trồng chủ lực của Bảo Lộc và người dân trồng tự phát là chủ yếu. Ông Nguyễn Văn Hán, Chủ tịch UBND xã Đam Bri cho biết: Con tằm rất nhạy cảm với môi trường xung quanh. Nếu diện tích dâu bị nhiễm thuốc trừ sâu từ những vườn trồng cây khác xung quanh thì con tằm sẽ bị ảnh hưởng. Do đó, xã khuyến cáo bà con chỉ trồng dâu, nuôi tằm ở khu vực phù hợp. Còn theo ông Nghiêm Xuân Đức, Phó Chủ tịch UBND TP Bảo Lộc, căn cứ quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội TP Bảo Lộc giai đoạn 2015 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 thì Bảo Lộc sẽ trở thành trung tâm sản xuất, chế biến tơ lụa của tỉnh. Đặc biệt, hiện tại, tơ lụa Bảo Lộc đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp giấy chứng nhận về nhãn hiệu. Do đó, việc tổ chức quy hoạch, phát triển sản xuất dâu tằm sẽ theo định hướng gắn vùng nguyên liệu với phát triển các nhà máy công nghệ tiên tiến; gắn nhà máy với người trồng dâu, nuôi tằm nhằm đảm bảo tiêu thụ lượng tơ kén cho địa bàn toàn tỉnh.
 
Tuy nhiên, để đảm bảo cho ngành dâu tằm phát triển bền vững thì giống tằm đang là vấn đề đáng bàn. Hiện tại, Việt Nam nói chung và Lâm Đồng nói riêng đã chủ động sản xuất được giống dâu với nhiều giống cho năng suất từ 25 - 30 tấn/ha. Theo ông Đặng Vĩnh Thọ, Chủ tịch Hiệp hội Dâu tằm tơ Việt Nam, thành công quan trọng của ngành dâu tằm tơ là trước đây Trung tâm Nghiên cứu thực nghiệm Nông Lâm nghiệp Lâm Đồng đã nghiên cứu thành công hai giống dâu mới là S7CB và VA201 cho năng suất tăng gấp 3 - 4 lần so với giống cũ. Giống mới này đã nhanh chóng được chuyển đổi, đầu tư thâm canh tại các vùng trồng dâu trong toàn tỉnh. Tiếp nối thành công đó, hiện 2 giống dâu mới là BL03 và BL06 cho năng suất cao hơn 15% giống dâu bình thường; còn giống VA211 cũng đã được nghiên cứu thành công, đang vận động bà con tiếp tục chuyển đổi. Thế nhưng, khó khăn nhất hiện nay vẫn là giống tằm. Lâm Đồng và một số tỉnh miền Bắc như Mộc Châu, Sơn La đều nuôi tằm lưỡng hệ nhưng lại không có nơi sản xuất giống tằm. Hơn 90% giống tằm hiện tại được các tư thương nhập từ Trung Quốc về, rồi phân phối cho các hộ nuôi tằm con bán lại. Riêng tại Lâm Đồng có 4 đơn vị nhập trứng tằm trực tiếp từ Trung Quốc về bán lại. Trứng tằm được nhập chủ yếu theo đường tiểu ngạch, phi mậu dịch nên độ rủi ro cao. Trứng tằm nhập từ Quảng Tây (Trung Quốc) sang cửa khẩu Móng Cái (Lạng Sơn) với khoảng cách 500 - 600 km nên quá trình vận chuyển ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng trứng giống. “Giống tằm cho người dân thuộc trách nhiệm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn nhưng vấn đề này chưa được quan tâm. Trước đây, Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông Lâm nghiệp Lâm Đồng có một tập đoàn giống tằm với hơn 50 giống gốc để làm cặp lai. Hàng năm, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cấp kinh phí để duy trì tập đoàn giống làm cặp lai. Nhưng, từ năm 2016, nguồn kinh phí này bị cắt nên việc sản xuất giống tằm càng khó khăn hơn. Do đó, vấn đề nghiên cứu, sản xuất giống tằm đang là đòi hỏi cấp thiết mà Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cần quan tâm để Việt Nam dần chủ động trong công tác giống, giảm dần sự lệ thuộc vào Trung Quốc” - ông Thọ kiến nghị.
 
HỮU SANG
,
.