Phát triển nông nghiệp toàn diện, bền vững và hiện đại
Cập nhật lúc 08:36, Thứ Hai, 01/01/2018 (GMT+7)
Sau 10 năm (2005 - 2015), ngành nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (CNC) của Lâm Đồng đã phát triển toàn diện cả chiều rộng lẫn bề sâu; trình độ canh tác phát triển vượt bậc, chất lượng sản phẩm ngày càng được cải thiện… Phát huy thành quả này, ngày 11/11/2016, Tỉnh ủy Lâm Đồng ban hành Nghị quyết số 05-NQ/TU về “Phát triển nông nghiệp toàn diện, bền vững và hiện đại giai đoạn 2016-2020 và định hướng đến năm 2025”. Sau 1 năm thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TU, ngành nông nghiệp tỉnh đã có những bước chuyển biến đáng kể.      
 
Toàn tỉnh hiện có hơn 49.000 ha đất canh tác được sản xuất theo hướng công nghệ cao. Ảnh: V.Báu
Toàn tỉnh hiện có hơn 49.000 ha đất canh tác được sản xuất theo hướng công nghệ cao. Ảnh: V.Báu
Tiềm năng, thế mạnh được khai thác
 
Với 278.882 ha đất canh tác, Lâm Đồng có nhiều tiềm năng phát triển nông nghiệp. Dựa trên điều kiện sinh thái, tỉnh đã hình thành 4 vùng sinh thái, sản xuất nông nghiệp. Hiện nay, toàn tỉnh có 49.089 ha/278.882 ha (17,6%) đất canh tác sản xuất ứng dụng CNC. Trong đó, sản xuất nông hộ 42.878 ha (87,3%), doanh nghiệp 5.535 ha (11,3%) và hợp tác xã (HTX) 676 ha (1,37%).    
 
Điểm qua các loại cây trồng chủ lực cho thấy: Về cây cà phê, Lâm Đồng hiện có 155.239 ha, năng suất 29,6 tạ/ha, sản lượng trên 429.592 tấn; diện tích chỉ đứng sau Đắk Lắk về cà phê Robusta, nhưng đứng đầu về sản lượng cà phê Arabica (khoảng 1.600 ha) là loại cà phê có chất lượng và giá trị cao. Đứng thứ hai về sản xuất cà phê nhưng cà phê Lâm Đồng có chất lượng cao, giá thành thấp hơn so với các địa phương trong cả nước. Sản lượng xuất khẩu năm 2016 đạt 64,85 ngàn tấn cà phê nhân, giá trị đạt 117,32 triệu USD. Diện tích cây chè lớn nhất nước với 21.131 ha, sản lượng 242.367 tấn; trong đó hơn 3.000 ha trồng chè chất lượng cao (Ô Long, Kim Tuyên, Thúy Ngọc, Tứ Quý). Tỉnh đã hình thành một ngành hàng mang tính khép kín. Sản lượng xuất khẩu (chè chế biến) hàng năm 16,9 ngàn tấn, giá trị 35,87 triệu USD. Lâm Đồng dẫn đầu cả nước về sản xuất rau, đặc biệt là các loại rau ôn đới; có diện tích chuyên canh 19.500 ha. Sản lượng năm 2016 đạt trên 2,1 triệu tấn nhưng mới xuất khẩu 9,5 ngàn tấn rau, quả tươi và đông lạnh sang 14 nước (chiếm 0,45% sản lượng), giá trị 19,51 triệu USD. Hiện nay, Hoa Đà Lạt là thương hiệu nổi tiếng được người tiêu dùng hết sức ưa chuộng. Với diện tích canh tác 2.100 ha, sản lượng năm 2016 đạt 2,9 tỷ cành hoa các loại, tăng gấp đôi năm 2010; năm 2016 xuất khẩu 268 triệu cành hoa tươi các loại, chiếm 9,2% sản lượng. 
 
Ngành chăn nuôi tương đối ổn định và phát triển mạnh mẽ với việc chuyển đổi cơ cấu vật nuôi sang các loại có giá trị kinh tế cao như bò thịt cao sản, bò sữa, heo chất lượng cao. Từng bước hình thành chăn nuôi tập trung, trang trại theo hướng an toàn sinh học, công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tốc độ tăng đàn vật nuôi bình quân 4,6%/năm, tổng giá trị sản xuất năm 2016 theo giá hiện hành đạt 7.555 tỷ đồng. Thế mạnh chăn nuôi là phát triển đàn bò sữa. Đàn bò sữa tăng nhanh từ 3.400 con năm 2010 lên 19.235 con năm 2016 (tăng 5,5 lần), chăn nuôi quy mô công nghiệp 20%. Ngoài các hộ chăn nuôi, toàn tỉnh có 40 trang trại chăn nuôi bò sữa với số lượng 3.800 con; trong đó có 1 trang trại chăn nuôi theo hướng hữu cơ của Công ty CP Sữa Việt Nam. Trong tỉnh đã có 1 nhà máy chế biến sữa với công nghệ thanh trùng, công suất 40 tấn/ ngày và 12 trạm thu mua sữa của các doanh nghiệp tập trung ở huyện Đơn Dương và các huyện Đức Trọng, Lâm Hà, TP Bảo Lộc. 
 
Đối với lĩnh vực thủy sản, tổng diện tích mặt nước có khả năng nuôi thủy sản theo quy hoạch khoảng 3.000 ha. Diện tích nuôi chủ yếu là các đối tượng thủy sản truyền thống (rô phi, trắm cỏ, chép, mè…). Từ năm 2008 phát triển cá nước lạnh (cá tầm, cá hồi vân) với diện tích nuôi thâm canh công nghệ cao 50 ha, sản lượng 784 tấn/năm. 
 
Đẩy mạnh các hình thức liên kết sản xuất
 
Thời gian qua, Lâm Đồng tập trung phát triển các chuỗi sản xuất, sản xuất theo các tiêu chuẩn an toàn. 
 
Đến nay, toàn tỉnh có 54 chuỗi sản xuất, bao gồm 29 chuỗi rau, 3 chuỗi hoa, 1 chuỗi quả, 17 chuỗi chè, 4 chuỗi chăn nuôi. So với năm 2016, số lượng các chuỗi không tăng nhưng quy mô diện tích và số lượng các hộ tham gia liên kết đều tăng. Sản lượng tiêu thụ thông qua chuỗi đạt 54.326 tấn (trên 43.753 tấn rau, 6.126 tấn chè búp tươi, 91 triệu cành hoa các loại, 2.000 tấn trái cây và 2.356 tấn heo hơi). Dự kiến đến cuối năm 2017 sẽ tăng thêm 14 chuỗi nông sản an toàn. Các đơn vị sản xuất, sơ chế, chế biến tham gia mô hình chuỗi sản xuất đã xây dựng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến, thực hiện tốt mối liên kết giữa người sản xuất với nhà sơ chế, chế biến, kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm, thực hiện kiểm soát ATTP theo chuỗi, kết quả phân tích mẫu các chỉ tiêu về ATTP đều đạt yêu cầu theo quy định. Hiện toàn tỉnh có 46.893,5 ha sản xuất theo các tiêu chuẩn an toàn; trong đó, 1.780 ha rau, 497 ha chè, gần 181 ha cây ăn quả, 500 ha lúa, 44.000 ha cà phê và 35,5 ha dược liệu sản xuất theo UTZ, 4C, có khoảng 74.670 đầu heo chăn nuôi theo VietGAHP. 
 
Về phát triển kinh tế tập thể, kinh tế trang trại, toàn tỉnh đã có 139 HTX nông nghiệp (tăng 24 HTX so với năm 2016), với 5.619 thành viên, bao gồm: 76 HTX làm dịch vụ nông nghiệp, 54 HTX trồng trọt, 8 HTX chăn nuôi, 1 HTX nuôi trồng thủy sản. Có 2 liên hiệp HTX (Liên hiệp HTX số 1 Lâm Đồng và Liên hiệp HTX rau hoa Hưng Phát Đà Lạt) với 13 HTX thành viên. Có 249 tổ hợp tác với trên 5.400 tổ viên hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi. Doanh thu trung bình đạt 6.431 triệu đồng/năm, có 45 HTX sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có lãi (39,82%), 40 HTX hoạt động trung bình (35,4%), 28 HTX mới thành lập (24,78%). 
 
Toàn tỉnh có 945 trang trại (tăng 168 trang trại so với năm 2016), trong đó: 534 trang trại chăn nuôi, 368 trang trại trồng trọt, 2 trang trại thủy sản, 43 trang trại tổng hợp; có 205 trang trại được cấp giấy chứng nhận (tăng 89 trang trại so với năm 2016), 155 trang trại tham gia liên kết tiêu thụ sản phẩm; thu nhập bình quân 2,9 tỷ đồng/năm. Hiện, toàn tỉnh có 8 doanh nghiệp được công nhận doanh nghiệp NNCNC canh tác 278,6 ha/679,1 ha quy mô sản xuất, chủ yếu sản xuất rau, hoa cao cấp. Trong đó có 1 công ty 100% vốn nước ngoài sản xuất 111 ha hoa công nghệ cao, xuất khẩu 60%. Các doanh nghiệp sản xuất NNCNC liên kết với nông dân mở rộng quy mô sản xuất trên 247 ha. Dự kiến năm 2017 có 3 - 5 doanh nghiệp được công nhận ứng dụng CNC.     
 
Một số định hướng, giải pháp phát triển quan trọng
 
 Mục tiêu đến năm 2020, Lâm Đồng sẽ duy trì diện tích đất canh tác nông nghiệp khoảng 300.000 ha, giá trị sản xuất bình quân đạt trên 170 triệu đồng/ha/năm; có trên 20% diện tích canh tác ứng dụng CNC, đạt 35-40% giá trị sản xuất của ngành; đồng thời tiếp tục phát triển đàn trâu, bò thịt, bò sữa cao sản, heo và diện tích nuôi cá nước lạnh… Để đạt mục tiêu trên, một số định hướng, giải pháp phát triển quan trọng đã đặt ra đối với ngành nông nghiệp tỉnh. 
 
Trước hết, phải tập trung tái cơ cấu ngành nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng bền vững, phát huy lợi thế cạnh tranh, tăng trưởng nhanh và ổn định. Theo đó, phải quy hoạch, rà soát, quản lý theo quy hoạch, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững. Ngành phải thực hiện tốt công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp chế biến và dịch vụ. Rà soát quy hoạch phát triển nông nghiệp để kịp thời điều chỉnh, bổ sung, ban hành mới, đảm bảo đồng bộ, phù hợp với định hướng tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Rà soát lại các vùng quy hoạch sản xuất nông nghiệp tập trung để điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp. Triển khai quy hoạch các khu chăn nuôi tập trung; quy hoạch vùng NNCNC cho cây chè, cà phê, nhân rộng và phát triển các mô hình NNCNC hiệu quả. Quy hoạch, sắp xếp lại hệ thống nhà kính, nhà lưới của TP Đà Lạt và vùng phụ cận theo hướng bền vững, trên cơ sở quy hoạch diện tích nhà kính, nhà lưới phù hợp, lâu dài, đảm bảo cảnh quan môi trường; ban hành các chính sách phù hợp để thực hiện; có cơ chế, chính sách về đất đai trong phát triển nông nghiệp. 
 
Bên cạnh đó, phải đảm bảo cơ cấu nông nghiệp hợp lý; tiếp tục phát triển mạnh trồng trọt, nhất là những cây trồng chủ lực theo hướng thâm canh, tăng năng suất, ứng dụng KH-CN; tăng tỷ trọng chăn nuôi, hình thành các vùng chăn nuôi tập trung… Trong những năm tới phải duy trì diện tích đất canh tác nông nghiệp khoảng 300.000 ha. Ổn định diện tích cà phê 150.000 ha, chè 25.000 ha, dâu tằm 5.000 - 6.000 ha, điều 10.000 ha, rau 58.000 ha, hoa 7.800 ha. Phát triển cây dược liệu và cây đặc sản để đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao giá trị sản xuất, thu nhập. Trồng xen cây mắc ca trong vườn cà phê, chè, nhằm hình thành các mô hình canh tác bền vững, tăng thu nhập cho người dân. Đến năm 2020, tổng đàn bò thịt đạt 100.000 con, đàn bò sữa trong nhân dân đạt từ 40.000 - 50.000 con và khoảng 20.000 con chăn nuôi tập trung tại các trang trại doanh nghiệp, nâng sản lượng sữa tươi lên 200.000 tấn/năm. Phát triển các giống bò sữa cao sản HF thuần để nâng sản lượng sữa bình quân đạt 5.900 lít/con/chu kỳ. Mở rộng quy mô chăn nuôi heo, gà theo hướng trang trại sản xuất lớn, giảm diện tích sản xuất manh mún. Mở rộng diện tích trồng cỏ lên 4.000 ha để đảm bảo nguồn thức ăn phát triển chăn nuôi. Tạo điều kiện để các hộ nông dân, trang trại hình thành doanh nghiệp tư nhân, dần phát triển thành các công ty TNHH, công ty CP ở vùng nông thôn. Chuyển đổi diện tích canh tác hiệu quả thấp (dưới 50 triệu đồng/ha/năm) sang các loại cây trồng hiệu quả cao hơn hoặc chăn nuôi. Thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, phát triển các vệ tinh cung cấp nguyên liệu, hình thành vùng sản xuất nguyên liệu lớn, đảm bảo chất lượng, đáp ứng nhu cầu thị trường cao cấp; gắn sản xuất với chế biến các sản phẩm nông nghiệp. 
 
Vấn đề tiếp theo, ngành phải tập trung nguồn lực đầu tư phát triển NNCNC đối với các sản phẩm chủ lực (rau, hoa, chè, cà phê, cây đặc sản, dược liệu, bò sữa, bò thịt, cá nước lạnh). Tăng cường tiếp cận, chuyển giao, ứng dụng công nghệ mới một cách đồng bộ, hiện đại nhằm nâng cao năng suất, chất lượng nông sản, gắn với dịch vụ du lịch, phát triển các làng nghề truyền thống, tiếp tục hình thành và nhân rộng mối liên kết giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp một cách hiệu quả. Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho vùng trọng điểm sản xuất các loại cây trồng, vật nuôi chất lượng cao bằng cách: xây dựng hệ thống thủy lợi đầu mối cung cấp nước sạch; hệ thống giao thông nội đồng; hệ thống dịch vụ…; có chính sách hỗ trợ ưu đãi trong thời gian đầu để phát triển và ổn định sản xuất. Hình thành, thu hút đầu tư và phát triển có hiệu quả Khu nông nghiệp CNC tỉnh Lâm Đồng, Khu công nghiệp nông nghiệp Tân Phú và khoảng 19 vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng CNC gắn với phát triển các mô hình du lịch canh nông.
 
ĐAN THANH
,
.