Vai trò của khoa học công nghệ đối với nông nghiệp hữu cơ
Cập nhật lúc 09:14, Thứ Năm, 05/07/2018 (GMT+7)
Theo Tổ chức Nông nghiệp Hữu cơ Quốc tế (IFOAM): Nông nghiệp hữu cơ là hệ thống đồng bộ hướng tới thực hiện các quá trình với kết quả bảo đảm hệ sinh thái bền vững, thực phẩm an toàn, dinh dưỡng tốt, nhân đạo với động vật và công bằng xã hội, không sử dụng các hóa chất nông nghiệp tổng hợp và các chất sinh trưởng phi hữu cơ, tạo điều kiện cho sự chuyển hóa khép kín trong hệ canh tác, chỉ được sử dụng các nguồn hiện có trong nông trại và các vật tư theo tiêu chuẩn của quy trình sản xuất; đồng thời, theo IFOAM, 4 nguyên tắc sản xuất chung nông nghiệp hữu cơ đó là: Sinh thái, sức khỏe, cẩn trọng và công bằng. 
 
Phân loại lan vũ nữ tại Công ty TNHH Hoa Mặt Trời. Ảnh: Văn Báu
Phân loại lan vũ nữ tại Công ty TNHH Hoa Mặt Trời. Ảnh: Văn Báu

Thống kê của Viện Nghiên cứu Nông nghiệp hữu cơ thế giới (FiBL), đến năm 2017, trên thế giới có khoảng 180 quốc gia sản xuất nông nghiệp hữu cơ, với tổng diện tích khoảng 51 triệu ha, tập trung ở châu Úc, châu Âu, Hoa Kỳ, châu Á và châu Phi; trong đó, lớn nhất là châu Úc 22,8 triệu ha, chiếm 45%; châu Âu là 12,7 triệu ha, chiếm 25%; châu Á gần 4,0 triệu ha, chiếm 8,0% diện tích canh tác nông nghiệp hữu cơ thế giới. FiBL cũng phân tích loại cây trồng hữu cơ cho thấy 2/3 đất sản xuất nông nghiệp hữu cơ là đồng cỏ tự nhiên, chiếm 33,1 ha, vùng trồng trọt chỉ chiếm 14 triệu ha, trong đó, 4 triệu ha là cây trồng lâu năm. Tổng doanh thu nông nghiệp hữu cơ trên toàn cầu đạt khoảng 90 tỷ USD; tốc độ tăng trưởng khoảng 20%; thị phần nông nghiệp hữu cơ chiếm khoảng 1,2%; tại một số thị trường nhu cầu thực phẩm hữu cơ cao như Hoa Kỳ và châu Âu chiếm thị phần lớn, tương ứng 47% và 35%, châu Á là thị trường tiêu thụ sản phẩm hữu cơ đứng thứ ba trên thế giới.
 
Đối với Việt Nam, lịch sử canh tác hữu cơ đã hình thành từ lâu, song do cơ chế chính sách và thị trường tiêu thụ, khả năng ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất hữu cơ còn hạn chế nhất định, do đó diện tích nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam còn khiêm tốn so với tiềm năng. Theo Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam, năm 2015 có 33/63 tỉnh, thành phố có mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ với khoảng 76 ngàn ha, tăng gấp 3,6 lần so với năm 2010, tập trung một số tỉnh, thành phố như: Bến Tre, Hà Nội, Hòa Bình, Lâm Đồng, thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Hà Nam và Ninh Thuận... Hiện nay, sản phẩm hữu cơ tiêu thụ chủ yếu trong nước và xuất khẩu đến thị trường các nước như Nhật Bản, Anh, Hàn Quốc, Singapore và Nga...
 
Đối với tỉnh Lâm Đồng, trên cơ sở lợi thế so sánh, nông nghiệp của tỉnh tiếp tục phát triển theo hướng toàn diện, bền vững và hiện đại, đặc biệt là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đã đạt được những kết quả khả quan (tổng diện tích sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đạt 51.799 ha) chiếm 20% diện tích), doanh thu bình quân trong sản xuất nông nghiệp đến nay đạt khoảng 160 triệu đồng/ha/năm); trong đó diện tích rau ứng dụng công nghệ cao đạt 400-500 triệu đồng/ha/năm (cá biệt rau thủy canh đạt 8-9 tỷ đồng/ha/năm); hoa 800 triệu -1,2 tỷ đồng/ha/năm; chè chất lượng cao đạt 250 triệu đồng/ha/năm; cà phê cao sản đạt 240 triệu đồng/ha/năm; đã có 20 sản phẩm nông nghiệp được công nhận nhãn hiệu chứng nhận và 9 doanh nghiệp được công nhận là doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao (chiếm 32% cả nước); trong chương trình hợp tác với JICA, tỉnh đã hoàn thành việc xây dựng phát triển thương hiệu “Đà Lạt - Kết tinh kỳ diệu từ đất lành” với những sản phẩm chính gồm: rau, hoa, cà phê arabica và du lịch canh nông, tỉnh đầu tư ngân sách giá trị khoảng 11 tỷ đồng.
 
Trong những năm gần đây, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm luôn được tỉnh quan tâm chỉ đạo; tổng diện tích sản xuất các sản phẩm nông nghiệp áp dụng các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, 4C... của tỉnh Lâm Đồng đến nay đạt 59.573 ha; cũng đã xây dựng được 68 chuỗi an toàn thực phẩm với tổng diện tích 3.813 ha và tổng sản lượng 196.084 tấn/năm. 
 
Phát triển sản xuất nông nghiệp hữu cơ cũng đang được người sản xuất và người tiêu dùng hướng tới. Sản xuất nông nghiệp hữu cơ được coi là canh tác an toàn nông sản có kiểm soát, không sử dụng hóa chất, từ phân bón, thuốc trừ sâu, chất diệt cỏ, chất kích thích tăng trưởng. Mọi công đoạn từ khâu làm đất đến thu hoạch đều được ghi chép lại để truy xuất nguồn gốc nếu có vấn đề khi tiêu dùng… Lâm Đồng mặc dù là tỉnh được đánh giá đa dạng về chủng loại cây trồng, vật nuôi có quy mô diện tích ứng dụng công nghệ cao lớn, nhưng cho đến nay chứng nhận hữu cơ cũng mới chỉ được thực hiện trên cây chè, rau và chăn nuôi bò sữa, điều này cho thấy sản xuất nông nghiệp hữu cơ là nhu cầu cực cao chuỗi nông sản toàn cầu, song quy trình thực hiện cực kỳ nghiêm ngặt nên khả năng mở rộng quy mô rất chậm, vì vậy, đến nay toàn tỉnh có khoảng 202,4 ha cụ thể: trong sản xuất chè có Công ty Chè VINASUZUKY được tổ chức an toàn thực phẩm của Đức chứng nhận năm 2004, quy mô 124 ha; sản xuất rau hiện có 3 doanh nghiệp đã được chứng nhận sản xuất hữu cơ với diện tích 8,39 ha, trong đó, Công ty TNHH Liên Doanh Organic Đà Lạt là doanh nghiệp đi đầu trong sản xuất rau hữu cơ, với khoảng 150 chủng loại rau, quả khác nhau, trên diện tích 3,69 ha (năm 2014); Công ty TNHH TM DV SX Tượng Sơn (2 ha) và Công ty TNHH Florama Việt Nam (2,7 ha). Cả 3 doanh nghiệp đều được tổ chức chứng nhận Control Union Certifications chứng nhận theo tiêu chuẩn USDA của Hoa Kỳ; chăn nuôi hữu cơ có Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam xây dựng Trang trại Vinamilk Organic Đà Lạt quy mô 70 ha với 500 con bò sữa và đã được chứng nhận tiêu chuẩn hữu cơ châu Âu do Control Union (Hà Lan) cấp năm 2017.
 
Sản phẩm sản xuất hữu cơ có giá trị cao, tuy nhiên năng suất thấp, giá thành cao, vì vậy có giá bán cao hơn gấp nhiều lần so với các sản phẩm sản xuất thông thường. Cả 5 công ty được chứng nhận đều có hệ thống sơ chế đóng gói, bảo quản đã được cấp chứng nhập ISO 2200, HACCP đạt tiêu chuẩn châu Âu, nhằm đảm bảo yêu cầu về chất lượng xuyên suốt trong chuỗi sản xuất, tiêu thụ sản phẩm của chính công ty mình. Hiện tại, sản phẩm hữu cơ của các doanh nghiệp được cung cấp chủ yếu cho các đối tượng tiêu dùng cao cấp như cho các bếp ăn gia đình người nước ngoài hiện đang sống và làm việc tại Việt Nam, các khách sạn lớn, Công ty cổ phần suất ăn hàng không của hãng Pacific và một số khách hàng có nhu cầu tiêu dùng cao cấp khác và xuất khẩu. 
 
Để đạt được những kết quả như trên, trong những năm qua, tỉnh Lâm Đồng đã tập trung một số giải pháp trọng tâm để phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững, nâng cao năng suất, chất lượng như: (1) Thực hiện công tác quy hoạch với định hướng nâng cao năng suất, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và phát triển bền vững; (2) Chỉ đạo thực hiện quyết liệt chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; (3) Tập trung chỉ đạo sản xuất nông sản quy mô hàng hóa có chứng nhận theo tiêu chuẩn; (4) Đầu tư ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ; (5) Triển khai các dự án hỗ trợ phát triển sản xuất; xúc tiến thương mại mở rộng thị trường tiêu thụ; lồng ghép các nguồn vốn để hỗ trợ ứng dụng khoa học kỹ thuật, giống mới, xây dựng thương hiệu,…
 
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, sản xuất nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam cũng như tỉnh Lâm Đồng cũng đối diện với những khó khăn, thách thức như: (1) Chưa có quy hoạch về sản xuất hữu cơ, chưa có các cơ chế, chính sách riêng hỗ trợ cho sản xuất hữu cơ mà lồng ghép thực hiện trong các chương trình, dự án khác như chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, hỗ trợ liên kết sản xuất tiêu thụ thông qua hợp đồng, …; (2) Tại Việt Nam chưa có tổ chức kiểm tra chứng nhận sản xuất hữu cơ, việc chứng nhận hữu cơ phải thuê các tổ chức nước ngoài nên chi phí cao, khó thực hiện nhất là với các doanh nghiệp nhỏ hoặc các hộ dân; (3) Các quy trình sản xuất nông nghiệp hữu cơ, tài liệu tập huấn đào tạo về sản xuất hữu cơ còn hạn chế, chưa phổ biến; (4) Người tiêu dùng chưa tin tưởng và khó phân biệt giữa sản phẩm sản xuất hữu cơ và các sản phẩm thông thường khác, chính vì vậy, tuy nhu cầu thị trường cao nhưng sản phẩm nông nghiệp hữu cơ vẫn khó tiêu thụ, chỉ các tổ chức cá nhân có hợp đồng trước, với đầy đủ các chứng nhận hợp lệ mới có thể đứng vững trên thị trường; (5) Quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ nên khó khăn trong việc sản xuất quy mô lớn dẫn đến chi phí đầu tư còn cao; (6) Nguồn nhân lực tinh thông sản xuất nông nghiệp hữu cơ còn quá ít so với yêu cầu; (7) Chưa xây dựng các chương trình trọng điểm và đầu tư nguồn lực tương xứng để tạo đột phá nông nghiệp hữu cơ.
 
Để nông nghiệp hữu cơ Việt Nam nói chung, nông nghiệp hữu cơ tỉnh Lâm Đồng nói riêng tiếp tục phát triển đáp ứng nhu cầu ngày càng cao tham gia chuỗi nông sản toàn cầu, chúng tôi xin đề xuất một số nội dung sau đây:
 
1/ Cần tiếp tục công tác thông tin tuyên truyền về nông nghiệp hữu cơ bằng nhiều hình thức phù hợp, trong đó chú trọng khai thác các điểm thông tin khoa học công nghệ cơ sở để cập nhật các thông tin mới, mô hình mới về nông nghiệp hữu cơ để nhân rộng trong sản xuất trong thời gian tới. Trước mắt, cần nhân rộng các mô hình nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam và tỉnh Lâm Đồng với cây trồng, vật nuôi có lợi thế, có tính khả thi cao;
 
2/ Bộ Nông nghiệp và PTNT cần sớm có khung pháp lý, các chính sách về nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam tương đồng tiêu chuẩn quốc tế nhằm đảm bảo rào cản kỹ thuật thương mại WTO (TBT và SPS); xây dựng đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2018 - 2025 trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhằm khai thác tiềm năng nông nghiệp hữu cơ, tham gia chuỗi nông sản toàn cầu;
 
3/ Xác định khoa học công nghệ là then chốt trong phát triển nông nghiệp hữu cơ, do đó đầu tư có trọng tâm khoa học và công nghệ trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ như đào tạo nguồn nhân lực, các đề tài khoa học có tính ứng dụng cao như công nghệ sinh học trong sản xuất hữu cơ; nghiên cứu quy trình canh tác, chăn nuôi hữu cơ phù hợp với từng loại cây trồng, vật nuôi; nghiên cứu các sản phẩm phân bón sinh học, thuốc bảo vệ thực vật sinh học, thức ăn chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hữu cơ. Nghiên cứu chọn tạo giống cây trồng, vật nuôi mới có năng suất, chất lượng cao, có khả năng chống chịu với dịch hại tốt phù hợp với quy trình canh tác hữu cơ và thích ứng với biến đổi khí hậu;
 
4/ Cần thực hiện đa dạng hóa các tổ chức chứng nhận nông nghiệp hữu cơ cả trong nước và quốc tế, đây là vấn đề bức xúc trong thực tiễn sản xuất hiện nay. Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Bộ Nông nghiệp và PTNT cần tiếp tục khảo sát thực tế về tình hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam, điều chỉnh bổ sung hoàn thiện tiêu chuẩn: TCVN 11041:2015 - Hướng dẫn sản xuất, chế biến, ghi nhãn và tiếp thị thực phẩm sản xuất theo phương pháp nông nghiệp hữu cơ đáp ứng yêu cầu thực tế toàn cầu và dự báo xu thế thời đại phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế;
 
5/ Trong chỉ đạo sản xuất và sản xuất nông nghiệp hữu cơ đối với doanh nghiệp, trang trại và nông hộ cần thay đổi nhận thức nông nghiệp hữu cơ trước yêu cầu mới đó là: nông nghiệp hữu cơ ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp thông minh 4.0 chứ không phải nông nghiệp hữu cơ chỉ là nông nghiệp quảng canh, nông nghiệp tự nhiên, nông nghiệp sinh thái... sử dụng phân bón hữu cơ, thuốc thảo mộc truyền thống mà là nông nghiệp hữu cơ dựa trên thành quả trình độ khoa học và công nghệ trên cơ sở đảm bảo 4 nguyên tắc chung sản xuất nông nghiệp hữu cơ; do đó đẩy mạnh khởi nghiệp nông nghiệp hữu cơ nói chung, nông nghiệp hữu cơ ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ thông minh 4.0 nói riêng đối với một số nông sản có lợi thế, đặc hữu từng địa phương, nhằm tạo ra sản phẩm hữu cơ siêu chất lượng, siêu an toàn thực phẩm tham gia chuỗi giá trị toàn cầu;
 
Và cuối cùng, tăng cường hợp tác quốc tế về nông nghiệp hữu cơ, đặc biệt là Liên đoàn Nông nghiệp Hữu cơ Quốc tế IFOAM để tiếp cận tiêu chuẩn và tổ chức sản xuất về nông nghiệp hữu cơ.
 
TS. PHẠM S - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Ðồng
,
.