Ka Đô: Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao vào trồng rau, hoa

Cập nhật lúc 20:00, Thứ Ba, 31/12/2019 (GMT+7)
Những năm trở lại đây, xã Ka Đô (huyện Đơn Dương) đã xuất hiện nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Tại đây, hệ thống nhà kính, nhà lưới và tưới tự động được nhiều nông dân áp dụng thực hiện. Nhờ đó, người dân tiết kiệm được thời gian, chi phí, đồng thời phát triển kinh tế gia đình và địa phương.
 
Kinh tế của nhiều nông dân xã Ka Đô được cải thiện, đặc biệt là người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số sau khi áp dụng công nghệ cao vào nông nghiệp. Ảnh: T.Hiền
Kinh tế của nhiều nông dân xã Ka Đô được cải thiện, đặc biệt là người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số sau khi áp dụng công nghệ cao vào nông nghiệp. Ảnh: T.Hiền
 
Thu nhập ổn định
 
Từ những năm trước 2017, người dân xã Ka Đô chủ yếu trồng rau thương phẩm, chăn nuôi tự phát nhằm phát triển kinh tế gia đình. Tuy nhiên, quy mô sản xuất mang tính tự cung, tự cấp, chưa có sự đầu tư kĩ lưỡng nên hiệu quả mang lại không cao. 
 
Dẫn chúng tôi đến thăm mô hình nhà kính trồng hoa cúc của ông Võ Văn Tuấn (57 tuổi, tại thôn Ka Đô) lúc đang vào mùa thu hoạch, ông Tuấn kể, năm 2017, trên diện tích gần 7.000 m2, ông Tuấn quyết định đầu tư hệ thống cơ sở vật chất nhà kính bao quanh để đảm bảo cho bông không chịu tác động của thời tiết và sự thâm nhập phá hoại của sâu bệnh. Cùng với đó là hệ thống tưới tiêu tự động và đèn chiếu sáng ban đêm, nhằm đảm bảo không khí trong vườn lúc nào cũng được điều hòa phù hợp cho bông phát triển. 
 
Được biết, bông cúc mang lại hiệu quả kinh tế cao. “Đầu ra của sản phẩm tương đối ổn định, chủ yếu tôi nhập cho đầu mối ở Đà Lạt. Riêng hoa bình quân một năm mang lại lợi nhuận hơn 1 tỷ đồng/năm, lợi nhuận cao gấp nhiều lần trồng lúa. Ngoài trồng bông thì tôi còn trồng thêm dứa, cà chua và chăn nuôi để tăng thêm thu nhập trong gia đình” - ông Tuấn chia sẻ.
 
Cũng giống như ông Tuấn, ông Ma Reng (51 tuổi, tại thôn Ka Đô cũ) đang tất bật với 4.000 m2 vườn sú của gia đình ngày vào vụ. Dừng tay nghỉ ngơi sau một buổi sáng làm việc, ông nói, trước giờ tôi chỉ làm theo lối truyền thống, cứ trồng ngoài trời rồi để vậy nên khi thu hoạch chất lượng kém, cây lại thường xuyên mắc sâu bệnh. Xuất phát từ lý do đó, sau khi áp dụng việc sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, tôi bắt đầu lắp đặt hệ thống nhà lưới để trồng các loại rau... “Trước đây vườn không những không có lợi nhuận khi thu hoạch mà còn lỗ vốn. Sau khi được nghe triển khai về việc áp dụng công nghệ cao sẽ có hiệu quả hơn nhiều nên gia đình làm “liều” chuyển đổi. Giờ đây gia đình có thu nhập khá ổn định, trừ hết chi phí từ công thuê người, phân bón này kia thì gia đình vẫn còn thu về được hơn 80 triệu đồng/năm” - ông Ma Reng cười nói.
 
Trao đổi với chúng tôi, bà Lê Thị Bích Thủy - Phó Chủ tịch UBND xã cho biết, kinh tế nông nghiệp của xã Ka Đô có sự tăng trưởng liên tục, giá trị sản xuất tăng cao. Trên địa bàn hình thành nhiều mô hình sản xuất rau, hoa, quả công nghệ cao với trình độ thâm canh ngày càng cao, cung cấp nhiều sản phẩm nông nghiệp có giá trị, thu nhập bình quân đạt hơn 75 triệu đồng/người/năm.
 
“Cùng với việc áp dụng công nghệ cao vào sản xuất của từng hộ gia đình, nhiều tổ hợp tác (THT) và hợp tác xã (HTX) tại địa phương đã được hình thành theo xu hướng kết hợp để tăng thêm nguồn thu nhập” - bà Thủy cho hay. 
 
Theo chân anh Lê Minh Huy - Chủ nhiệm THT sản xuất rau an toàn Thanh niên, chúng tôi được thăm mô hình của từng thành viên. Anh nói: “Từ những hiệu quả ban đầu, tổ từng bước mở rộng diện tích sản xuất và kết nạp thêm tổ viên, tất cả tổ viên đều được cấp chứng chỉ VietGAP. Hướng tới phát triển rau sạch, an toàn, các thành viên trong tổ xây dựng mô hình theo hướng công nghệ cao. Qua hơn một năm triển khai, thu nhập đến nay của mỗi thành viên trong tổ đều trên 100 triệu đồng/năm”.
 
Tuy thời gian hoạt động của THT sản xuất rau an toàn Thanh niên chưa được lâu nhưng với định hướng xây dựng mô hình sản xuất rau an toàn để cung cấp cho thị trường, đồng thời giải quyết việc làm tại chỗ cho thanh niên địa phương, THT đã mang lại hiệu quả kinh tế và tạo bước tiến mới trong việc làm kinh tế giỏi của thanh niên nói riêng và toàn địa phương nói chung. 
 
Đầu tư hệ thống nhà kính và tưới tiêu tự động cho 7.000 m2 diện tích trồng hoa, rau, dứa của ông Tuấn. Ảnh: T.Hiền
Đầu tư hệ thống nhà kính và tưới tiêu tự động cho 7.000 m2 diện tích trồng hoa, rau, dứa của ông Tuấn. Ảnh: T.Hiền
 
Mở ra nhiều cơ hội phát triển 
 
Năm 2019, toàn xã Ka Đô đất sản xuất nông nghiệp đạt 1.941,64 ha, trong đó diện tích sản xuất ứng dụng công nghệ cao là 1.739 ha, đạt 99,8% kế hoạch (chiếm 71%). Hệ thống nhà kính, nhà lưới, tưới nhỏ giọt và tự động (chiếm 80%) diện tích và có 520 ha với năng suất bình quân là 336 tạ/ha.
 
Nằm trong Đề án 61 của UBND tỉnh Lâm Đồng, qua đó, lãnh đạo và Nhân dân xã Ka Đô triển khai một cách đồng bộ và có hiệu quả về kinh tế cao. Tính tới thời điểm hiện tại, xã đã tiến hành triển khai mô hình trồng rau, quả theo hướng công nghệ cao trên 9 thôn, có 21 hộ gia đình tham gia với quy mô nhân rộng lên 10 ha và giải quyết việc làm cho hơn 21 lao động. 
 
Năm 2017, với số vốn đầu tư là 600 triệu đồng từ nguồn Quỹ Hỗ trợ nông nghiệp Trung ương, UBND xã đã cho 21 hộ gia đình vay để đầu tư sản xuất theo hướng công nghệ cao với các loại rau, cà chua, ớt ngọt, hoa,...
 
Theo đó, trong việc phát triển mô hình trồng rau, hoa công nghệ cao, xã Ka Đô khuyến khích và giúp đỡ bà con vay vốn để tiến hành lắp đặt nhà kính, nhà lưới và hệ thống tiếp nước tự động. Hiện, trên địa bàn xã có 3 THT nông nghiệp: THT rau xanh, THT sản xuất rau an toàn Thanh niên và THT chăn nuôi bò sữa Ka Đô; 3 HTX nông nghiệp: HTX Bồ Công Anh, HTX vận tải Hiệp Nghĩa và HTX Bình An.
 
“Để nâng cao hiệu quả phát triển nông nghiệp công nghệ cao, UBND xã Ka Đô đã triển khai cho 21 hộ đăng kí và thực hiện hệ thống tưới thông minh theo chương trình ứng dụng công nghệ cao, kinh phí Nhà nước và Nhân dân đóng góp khoảng 1,8 tỷ đồng. Bên cạnh đó, tập trung tuyên truyền, vận động Nhân dân hưởng ứng thay đổi phương thức tổ chức sản xuất theo hướng thành lập các tổ, nhóm hộ sản xuất, tham gia vào các chuỗi liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ với các doanh nghiệp” - bà Lê Thị Bích Thủy cho hay.
 
THÂN THU HIỀN
,