NGÀNH NÔNG NGHIỆP LÂM ĐỒNG

Làm gì chủ động tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới

Cập nhật lúc 06:58, Thứ Tư, 01/01/2020 (GMT+7)
Phát huy lợi thế tiềm năng khí hậu và đất đai, Lâm Đồng quá trình phát triển nông nghiệp đã hình thành những vùng chuyên canh quy mô sản xuất lớn. Diện tích canh tác toàn tỉnh 300.000 ha, với nhiều loại nông sản tham gia chuỗi nông sản toàn cầu như: cà phê, chè, tơ tằm, điều, rau, hoa, dược liệu và bò sữa. Diện tích đất sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (NNƯDCNC) đạt khoảng 57.700 ha, chiếm 20% diện tích canh tác, hình thành 2 vùng sản xuất NNƯDCNC, 9 doanh nghiệp NNCNC. Tiến hành phát triển nông nghiệp toàn diện về NNƯDCNC, nông nghiệp thông minh, nông nghiệp hữu cơ để chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu và hội nhập quốc tế. Nhờ đó giá trị sản xuất bình quân trên đơn vị diện tích đạt 173 triệu đồng/ha/năm; nhiều nông sản xuất khẩu năm sau cao hơn năm trước 10 - 20% như cà phê, rau, hoa, dược liệu...
 
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thăm gian hàng triển lãm thành tựu nông nghiệp Lâm Đồng tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Hà Nội. Ảnh: V.Việt
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thăm gian hàng triển lãm thành tựu nông nghiệp Lâm Đồng tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Hà Nội. Ảnh: V.Việt
 
Tuy nhiên, trước yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đặc biệt là tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới CPTPP và EVFTA, ngành nông nghiệp Lâm Đồng cũng đặt ra một số thách thức cơ bản sau đây:
 
Trước hết, quỹ đất có diện tích lớn, đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư hiện nay rất hạn chế; chi phí đền bù giải phóng mặt bằng rất cao, gây khó khăn cho nhà đầu tư. Tỉnh tập trung chỉ đạo hình thành chuỗi liên kết sản xuất quy mô lớn đủ đáp ứng cho thị trường xuất khẩu, song đến nay khoảng 145 chuỗi chưa tương xứng với quy mô vùng nguyên liệu.
 
Lâm Đồng có thị trường lớn, nhưng thực tế tỷ lệ nông sản sản xuất chưa truy suất còn chiếm tỷ lệ cao; chất lượng nông sản không đồng đều; giá thành cao, chưa chứng minh nguồn gốc xuất xứ vùng trồng nên nông sản sẽ khó cạnh tranh. 
 
Nếu không quyết liệt khắc phục các hạn chế nêu trên thì sức cạnh tranh của nông sản Lâm Đồng sẽ thấp khi mở rộng thị trường xuất khẩu đến các nước thành viên CPTPP và EVFTA.
 
Đến nay, Lâm Đồng thu hút 214 dự án đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp với tổng vốn đầu tư khoảng 10.042,68 tỷ đồng. Trong đó có khoảng 1.425 doanh nghiệp, cơ sở trong nước và 77 doanh nghiệp FDI với tổng vốn đầu tư gần 267 triệu USD. Ngoài ra, tỉnh hiện có 243 HTX nông nghiệp, 273 tổ hợp tác, 952 trang trại sản xuất nông nghiệp; có 145 chuỗi liên kết từ sản xuất, sơ chế, chế biến đến tiêu thụ, với sự tham gia liên kết của 177 doanh nghiệp, HTX và 15.800 hộ nông dân.

So sánh với các nước thành viên mà Việt Nam là đối tác cho thấy nông nghiệp Lâm Đồng ngày càng có xu hướng đang rất nhỏ lẻ, manh mún. Nguyên nhân do quá trình đô thị hóa nhanh, năng suất lao động thấp bởi khả năng áp dụng cơ giới hóa hạn chế, chất lượng nông sản không đồng đều. Như vậy làm thế nào để cạnh tranh được với các nước có nền nông nghiệp hiện đại là vấn đề bức thiết trong quá trình hội nhập. 

Từ thực tế trên, đòi hỏi nông nghiệp Lâm Đồng phải có giải pháp trước mắt và lâu dài khắc phục những hạn chế, theo tôi cần thực hiện một số giải pháp cơ bản sau đây:
 
Rà soát, đánh giá các chính sách thực tiễn, tiếp tục xây dựng các chính sách mang tính đột phá đáp ứng yêu cầu mới: Cần tiếp tục đổi mới quan hệ sản xuất phù hợp, từng bước chuyển dần quy mô kinh tế nông hộ sang kinh tế HTX, tổ hợp tác. Thực hiện liên kết sản xuất đa chiều; có cơ chế hình thành các HTX nông nghiệp đa ngành, đa quản trị (mô hình doanh nghiệp chuyên doanh trong HTX) và liên kết giữa doanh nghiệp với nông dân sản xuất theo chuỗi giá trị đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
 
Khẩn trương đào tạo nguồn nhân lực nông nghiệp để đáp ứng yêu cầu hội nhập, nông nghiệp ứng dụng CNC, nông nghiệp thông minh 4.0. và nông nghiệp hữu cơ. Cần tiến hành các hình thức đào tạo phong phú, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao. Đào tạo đồng bộ cán bộ quản lý nhà nước, doanh nghiệp và nông dân để họ nắm vững các thành tựu khoa học công nghệ trong và ngoài nước, kiến thức thị trường và luật pháp quốc tế. Từ đó, làm thay đổi nhận thức người nông dân để chủ động điều chỉnh phương thức sản xuất đảm bảo các yêu cầu hội nhập quốc tế và cạnh tranh các nông sản của các nước thành viên.
 
Triển khai các giải pháp đồng bộ, quyết liệt hơn để nền nông nghiệp phát triển bền vững, hiện đại theo nguyên lý: “lấy khoa học công nghệ làm khâu đột phá; triển khai đồng bộ nông nghiệp ứng dụng CNC, nông nghiệp thông minh và nông nghiệp hữu cơ là yêu cầu tất yếu để nâng cao năng suất, chất lượng; thực hiện triệt để tái cơ cấu ngành nông nghiệp; khai thác tối ưu lợi thế so sánh giá trị tổng hợp ngành hàng; chú trọng bảo vệ môi trường sinh thái trong điều kiện biến đổi khí hậu để nâng cao năng lực cạnh tranh nông sản trong quá trình hội nhập quốc tế”.
 
Thực hiện các đề án chuyên đề có hiệu quả theo nguyên lý sản xuất nông sản phải có chất lượng cao và an toàn thực phẩm. Thực hiện đầy đủ các cam kết nhằm thỏa mãn các hiệp định thương mại như: TBT và SPS của WTO; tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị là sự sống còn trong việc thực hiện các rào cản kỹ thuật với các nước thành viên CPTPP và EVFTA.
 
Ở Lâm Đồng, kinh tế hộ vẫn chiếm diện tích đất lớn. Khả năng hội nhập quốc tế của doanh nghiệp chưa sẵn sàng, vẫn lúng túng trong đàm phán thương mại, sức cạnh tranh và khả năng thích ứng thị trường hạn chế. 

Lâm Đồng sẽ chọn phân khúc thị trường nào để phát huy những lợi thế, tham gia vào chuỗi giá trị cung ứng sản phẩm nông nghiệp toàn cầu? 

Để ngành nông nghiệp Lâm Đồng tham gia vào chuỗi nông sản toàn cầu, việc tổ chức sản xuất theo hướng toàn diện, hiện đại, đa chức năng là vấn đề đặt ra trước mắt và lâu dài. Vì vậy, việc đẩy mạnh liên kết chuỗi sản xuất nhằm khai thác ngưỡng đội trần năng suất cây trồng, vật nuôi, đột phá khâu chế biến nông sản và phát triển thị trường một cách khoa học và sáng tạo sẽ có tác dụng thúc đẩy cung ứng sản phẩm nông nghiệp ngày càng có vị thế trong chuỗi nông nghiệp toàn cầu.
 
Thực hiện xã hội hóa trong nghiên cứu triển khai khoa học công nghệ cho các tổ chức, cá nhân nghiên cứu, sản xuất, nhập khẩu giống vật nuôi, cây trồng mới có năng suất, chất lượng cao phù hợp với nhu cầu của thị trường. Đồng thời tiếp tục thu hút đầu tư để các doanh nghiệp tổ chức sản xuất và liên kết với nông dân; chuyển giao kỹ thuật và sản xuất trên quy mô lớn trên một số cây trồng, vật nuôi có lợi thế so với quốc tế và khu vực. Nông nghiệp Lâm Đồng phải giữ thế chủ động có sẵn một sản lượng hàng hóa quy mô đủ lớn, có tính cạnh tranh cao để cùng nông sản cả nước tham gia thị trường CPTPP và EVFTA theo phân khúc thị trường nào thuận lợi thì xâm nhập khai thác toàn diện.
 
Tiếp tục rà soát quy hoạch và quản lý quy hoạch, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước có nhiều tiềm năng đầu tư vào nông nghiệp: Trong những năm qua, từ Trung ương đến tỉnh có rất nhiều quy hoạch song chất lượng quy hoạch còn thấp, vì vậy luôn có nhiều quy hoạch bị vỡ sau 2-3 năm. Trong thực tiễn sản xuất cho thấy quá trình triển khai quy hoạch xuất hiện theo 2 xu hướng không tích cực đều gây hệ lụy đến phát triển nông nghiệp bền vững. Một là, thực hiện quá thấp so với mục tiêu quy hoạch (dâu tằm, chè, bò thịt và bò sữa); Hai là, thực tế diễn ra quy mô diện tích vượt quá nhiều lần so với quy hoạch (rau, hoa, cà phê và cây ăn quả); còn thiếu quy hoạch dài hạn để tạo ra những vùng nguyên liệu bền vững, công tác dự báo thị trường nông sản thế giới chưa hiệu quả; thiếu các ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ đi kèm làm tăng giá thành sản xuất nông sản.
 
Cần có cuộc cách mạng đối với ngành nông nghiệp: Cuộc cách mạng tiến hành những nội dung đột phá cơ bản sau:
 
Đẩy mạnh việc áp dụng cơ giới hóa, tự động hóa trong toàn bộ quá trình sản xuất, đặc biệt là các khâu chăm sóc và thu hoạch nhằm giảm giá thành sản xuất. Tập trung chỉ đạo sản xuất tùy theo điều kiện thực tiễn về điều kiện sinh thái từng vùng, lợi thế cây trồng vật nuôi, sự sẵn sàng và năng động của doanh nghiệp và nông dân của từng địa phương. Cần chỉ đạo sản xuất NNƯDCNC, nông nghiệp thông minh 4.0 và nông nghiệp hữu cơ. Từng bước đột phá phát triển, tạo cuộc cách mạng nông nghiệp theo hướng toàn diện, bền vững, hiện đại và đa chức năng.
 
Tiếp tục chỉ đạo sản xuất quyết liệt áp dụng các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm; sản xuất có chứng nhận chất lượng sản phẩm như: GlobalGAP, VietGAP, VietGAHP, HCCP, ISO, Organic, GMP, UTZ, Rainforest. Thực hiện huy động tối đa các nguồn lực xã hội hóa các hoạt động nghiên cứu khoa học. Chú trọng khuyến khích, tôn vinh và ghi nhận các tổ chức và cá nhân không sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước nghiên cứu khoa học mà tạo ra các sản phẩm khoa học, công nghệ có tính mới, mang lại giá trị cao làm lợi cho cộng đồng dân cư, của địa phương hay của quốc gia. Có giải pháp đẩy mạnh thị trường khoa học công nghệ đóng góp ngày càng cao các yếu tố năng suất tổng hợp. 
 
Khẩn trương có giải pháp phù hợp trong việc thực hiện Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Triển khai đồng bộ và quyết liệt Nghị định 57/2018/NĐ-CP về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn và Nghị định 98/2018/NĐ-CP về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, nhằm khai thác tiềm năng lợi thế của nông nghiệp trong điều kiện biến đổi khí hậu và hội nhập quốc tế.
 
Tiếp tục cải cách hành chính theo hướng phục vụ công dân và doanh nghiệp với yêu cầu nhanh và chính xác, đáp ứng dịch vụ hành chính công, đảm bảo sự hài lòng của khách hàng. Xây dựng và đẩy mạnh các hình thức tổ chức sản xuất, dịch vụ có hiệu quả ở nông thôn. Nâng cao tỷ trọng ngành dịch vụ trong nông nghiệp, nhất là dịch vụ khoa học trong nông nghiệp. Tiếp tục xây dựng các cơ chế, chính sách nhằm tiếp tục đổi mới phát triển HTX, tổ hợp tác, hỗ trợ kinh tế tập thể về đào tạo cán bộ quản lý, trợ giúp kỹ thuật và chuyển giao công nghệ, xúc tiến thương mại… Khuyến khích phát triển các mối liên kết tự nguyện, các liên minh trong tổ chức sản xuất, dịch vụ đầu vào, chế biến, tiêu thụ sản phẩm giữa nông hộ với doanh nghiệp, tổ chức khoa học, hiệp hội ngành hàng (trong đó doanh nghiệp là trung tâm). Từng địa phương ban hành các chính sách đặc thù phù hợp để thu hút đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn một cách hiệu quả và cách mạng hơn.
 
Có cơ chế đột phá và cách mạng về thể chế chính sách hình thành một bộ phận doanh nghiệp nông nghiệp mới đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế theo hướng từ thấp đến cao: nông dân có tư duy thị trường phát triển thành doanh nghiệp tư nhân (công ty TNHH), khi quy mô lớn tiếp tục phát triển trở thành công ty cổ phần trong nông nghiệp, nhằm tạo phương thức sản xuất quy mô tập trung. Song song với đầu tư đổi mới công nghệ cần đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao có kỹ năng quản trị giỏi, có chuyên môn sâu, am hiểu thông lệ quốc tế và có khả năng phân tích, dự báo thị trường quốc tế; tác phong làm việc năng động trong sản xuất kinh doanh, chủ động nắm chắc thành công khi tham gia thị trường các nước thành viên CPTPP và EVFTA.     
 
Tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế, thông qua đó tiếp cận nhiều dự án ODA hỗ trợ các địa phương, góp phần cho nông nghiệp Lâm Đồng cải thiện nhiều mặt, năng suất và chất lượng nông sản tăng cao, tỷ trọng giá trị xuất khẩu nông sản ngày càng tăng, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Thu hút các nguồn vốn ODA và FDI nhằm thu hút các dự án trọng tâm để nâng cao năng lực quản lý, tiếp cận công nghệ mới, đầu tư trang thiết bị, tham gia trực tiếp sản xuất kinh doanh. Quá đó, tạo bước đột phá ngành nông nghiệp, chủ động hội nhập quốc tế, chủ động thực thi có hiệu quả các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, nâng cao sức cạnh tranh tham gia chuỗi nông sản toàn cầu; tạo đà để Lâm Đồng trở thành một trong những trung tâm nông nghiệp quốc gia và Đông Nam Á vào năm 2025-2030.
 
TS.PHẠM S - PHÓ CHỦ TỊCH UBND TỈNH
,