Người mở đường Trường Sơn thuở ấy
Cập nhật lúc 08:03, Thứ Năm, 25/04/2019 (GMT+7)
Tình cờ đọc bài bút ký “Nhật ký Trường Sơn” đăng trên Báo Lâm Đồng, cách đây gần 10 năm. Qua bài viết cho thấy tác giả là người lính đã từng đi mở đường Trường Sơn trong những tháng năm chiến tranh ác liệt nhất. Không hiểu duyên cớ gì mà tôi cứ đọc đi đọc lại bài này đến mấy lần. Rung động và cảm kích thật sự, khiến tôi ước mơ là được gặp tác giả. Trái đất tròn, quả không sai tí nào. Ít ngày sau, một buổi sáng cuối xuân, trời Đà Lạt se se lạnh. Tôi gặp lại một người anh bạn, tay bắt mặt mừng. Hai chúng tôi đang trò chuyện, tình cờ, anh cũng lại gặp một người bạn cũ, hay đúng hơn là một đồng đội. Thì ra, người đồng đội này chính là tác giả bài bút ký “Nhật ký Trường Sơn”... 
 
Đường Trường Sơn - tuyến vận tải huyền thoại. Ảnh: Tư liệu
Đường Trường Sơn - tuyến vận tải huyền thoại. Ảnh: Tư liệu
 
Từ cuộc gặp ấy, tôi đôi lần ghé thăm và được biết: Tác giả tập nhật ký ấy nguyên là chiến sĩ Lê Ngọc Sơn, sinh năm 1947, quê Hà Nam, nhập ngũ năm 1965, Tiểu đoàn 458 Bộ binh, chức vụ Trung úy, Đại đội trưởng. Anh đang làm việc ở Văn phòng tiếp dân của Tỉnh ủy Lâm Đồng. Một cựu chiến binh dưới mắt nhìn của tôi thì anh còn phong độ lắm, điển trai, dáng người rất chuẩn. Thoạt nhìn không ai nghĩ rằng anh là một thương binh hạng 4/4, là một chứng nhân lịch sử, đã từng vào sinh ra tử đi mở đường Trường Sơn huyền thoại. Chiến tranh đã qua đi bốn mươi năm. Tiếng súng đã im hơi bốn mươi năm. Hòa bình là giấc mơ không tưởng của những người lính trẻ thời ấy.
 
Khi nói đến hai chữ “Thời chiến” người ta nghĩ ngay đến chiến tranh. Nếu đã chạm vào chiến tranh thì nói cả cuộc đời cũng chưa hết. Chiến đấu chống cái gì, giành lại cái gì? Là một cậu học sinh dứt tình thương gia đình để ra đi nhập ngũ. Từ sân trường bước vào quân trường, anh đã hiểu thế nào là quy luật của chiến tranh. Anh nhập ngũ tháng 5/1965, Tiểu đoàn 458 Bộ binh. Tiểu đoàn anh lúc ấy nhận nhiệm vụ làm con đường từ cửa rừng Động Phong Nha dài 68 km đến tỉnh Khăm Muội nước Lào, gọi là Bắc Trường Sơn, để vận chuyển lương thực, vũ khí, đưa thương bệnh binh, con em miền Nam ra Bắc. Cuộc chiến thời ấy đang độ cao điểm. Một mét đất một quả bom. Những trận dội bom đánh phá của giặc Mỹ ở khe Diêm, khe Đĩa, dốc Ba Thang, cây số 39 U bò… là những mục tiêu mà Mỹ cho rằng lợi hại nhất. Hang cửa Động Phong Nha là nơi che chở cho tiểu đoàn anh, là nơi trú ẩn an toàn để các chiến sĩ hoàn thành con đường Trường Sơn. Khi con đường Bắc Trường Sơn được khai thông thì giặc Mỹ phát hiện đã thả hóa chất xuống như mưa phùn. Thời gian khoảng từ hai đến ba tháng sau, cây lá héo khô rồi chết dần. Để đánh lạc hướng chúng, các anh em chiến sĩ phải lấy song mây buộc lên vách núi chằng ra như một giàn mướp rồi cứ một tuần thay lá một lần. Nhiều chiến sĩ bị hóa chất này dính vào mặt và uống phải nguồn nước đã bị rải độc...
 
 Đời quân ngũ của Lê Ngọc Sơn đã trải qua nhiều chiến trường như: A Sầu, A Lưới, chiến trường Tây Nguyên, chiến trường Savanakhet, Khăm Muội… (Lào). Anh cũng đã từng cầm súng canh cho đồng đội không bị cọp tha, đã nhặt từng miếng xương miếng thịt của đồng đội gói vào tấm tăng để chôn cất, nhường nhau từng miếng lương khô, nhường nhau từng ngụm nước hiếm hoi quý giá trong chiếc loong gô… và chiếc loong gô ấy bây giờ anh vẫn đang còn giữ. Năm 1967, Lê Ngọc Sơn về Binh đoàn 559 đóng tại Thá Mé Bắc Trường Sơn. Rồi chiến đấu ở chiến trường BC (B: miền Nam, C: Lào) làm công tác địch vận. Nói đến chiến trường Savanakhet - Lào, tôi thấy đôi mắt anh chợt buồn, có lẽ nơi đây đã để lại trong anh nhiều kỷ niệm lắm thì phải. Giọng anh chợt chùng xuống. Dường như ký ức đã đan thành những tảng mây không màu sắc quanh anh. Anh có quen một cô gái Lào tên là Ngòi. Nàng không đẹp cho lắm, nhưng với mái tóc đen huyền buông thả ngang vai đã làm say mê người chiến sĩ trẻ Việt Nam ngày nào. Ngòi đã có công nuôi dưỡng và che chở cho đồng đội anh trong những ngày cuộc chiến ác liệt nhất. Dù mưa hay nắng, dù tiếng súng tiếng bom có đe dọa mấy, Ngòi vẫn đem đến cho anh và đồng đội những rổ rau rừng tươi rói, những con cá suối hiếm hoi nhất. Rồi cũng có những đêm trăng sáng lắm, trăng chiếu xuyên qua khe chòi, Ngòi dạy cho anh tiếng Lào, anh cũng dạy lại cho Ngòi tiếng Việt. Cái tình cảm ấy anh làm sao quên được.
 
Thời gian cứ đẩy lùi dần mọi thứ về phía bên kia vũng sương mù dày đặc của quá khứ. Mọi thứ đi qua như một giấc mơ, nhưng nỗi nhớ nhung và đau buồn thì có thật. Ngày đơn vị anh chuyển công tác, cũng là ngày anh xa Ngòi mãi mãi. Anh có nghe một đồng đội kể lại rằng, sau ngày đơn vị anh chuyển công tác, Ngòi có đến tìm anh mà không gặp. Anh ước gì có điều kiện để đi tìm lại người con gái ấy. Đôi mắt đượm buồn nhìn tôi anh nói: “Đã hơn bốn mươi năm rồi, hình ảnh người con gái Lào ấy, tôi không bao giờ quên được. Những kỷ niệm thời ấy cứ len lỏi trong ký ức tôi. Sau lần chia ly ấy, tôi vẫn thầm cầu mong cho Ngòi được bình yên và hạnh phúc, dù là thứ hạnh phúc nhỏ nhoi, giản dị giữa đời thường”. 
 
Trong hoàn cảnh khó khăn và nghiệt ngã nhất của cuộc chiến, anh vẫn tạo ra được cho mình thời gian để viết nhật ký. Tôi thật sự cảm động khi anh đưa cho tôi xem quyển nhật ký đã cũ, giấy đã sờn, nét chữ viết vội. Nó đã theo anh suốt dặm đường đánh Mỹ. Trong ấy có bài thơ anh viết cho mẹ, căn dặn mẹ ở nhà hãy yên lòng. Thế nhưng bài thơ “Dặn mẹ” sao mà buồn quá, tôi nghĩ thầm sao giống như những lời trăn trối vậy, mà không dám nói ra: “Con sắp ra trận rồi/ Đi vào trong bão thép/ Giữ cho được nụ cười/ Đã nhiều đêm trăng dệt/ Mai mốt tan lửa khói/ Nếu con không trở về/ Mẹ cứ tìm mà hỏi/ Cô gái ở cùng C” (C: đại đội). Lời thơ mộc mạc của một người lính trẻ, tuy không hoa mỹ nhưng chứa đựng nhiều tình yêu thương mà anh luôn hướng về gia đình. Vì mẹ là tình yêu bao la của anh. Dù trong cuộc chiến nào đi nữa hình ảnh mẹ luôn là nguồn động lực cho anh vững bước chiến đấu. Cầm cuốn nhật ký trên tay, anh cảm động nói với tôi: “Tôi sẽ giữ quyển nhật ký này cho đến cuối đời, trước khi chết tôi sẽ trao lại cho Bảo tàng Quân đội Nhân dân Việt Nam”. Ý nguyện này của anh làm tôi thán phục vô cùng. Có ai biết trước được tương lai của mình. Chiến tranh đã qua đi từ rất lâu, các anh còn lại những gì: Ký ức? Đồng đội? Nhắc đến hai chữ “Đồng đội”, tôi chợt đồng cảm cùng tâm trạng người cựu chiến binh: Ngay giờ phút này đây anh còn chưa biết được ai còn ai mất. Nhưng đời sống vốn vô cùng khắc nghiệt. Anh trôi về hướng khác. Những bạn bè chiến hữu của anh cũng trôi về hướng khác. Những bài báo nhắn tìm đồng đội của anh lặng lẽ như một góc khuất, một góc khuất mênh mông của sự chia ly. 
 
Anh ngồi đó. Dáng vẻ lặng lẽ và cô đơn, đôi mắt luôn nhìn về một cõi nào đó xa xăm, như muốn tìm trong cõi xa xăm đó một kỷ niệm, một bóng hình… Anh đọc cho tôi nghe mấy bài thơ buồn viết về tình yêu, về thân phận và nỗi nhớ nhà da diết… Tôi đã kịp hình dung ra một tảng đá, một gốc cây, một cái hang động, một túp lều giữa rừng, một buổi dừng quân… nơi nào cũng có thể làm bàn cho anh viết vội những câu thơ đầy thương nhớ. Anh ra quân năm 1975. Từ giã chiến trường với 35% thương tật, vết đạn còn nằm trong đầu, thỉnh thoảng đau nhức khi trái gió trở trời. Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, anh trở về quê nhà ở Hà Nam, sống đời sống dân thường. Lái xe cho Xí nghiệp Vận tải ô-tô 3 Hà Nam Ninh. Lái xe khách tuyến đường Phủ Lý - Hà Nội - Nam Định. Tháng 2/1979, anh lại đi phục vụ chiến dịch biên giới Đình Lập - Na Dương biên giới phía Bắc. Năm 1981, anh vào Nam, chuyển công tác vào Lâm Đồng. Năm 1986, anh lập gia đình lần hai, vì người vợ đầu đã mất từ lâu. Năm 2000, anh về làm Chủ tịch Hội Nạn nhân chất độc da cam đioxin thành phố Đà Lạt. Vì thấy anh làm nhiều việc quá, tôi dè dặt hỏi: “Lẽ ra ở tuổi này anh nên nghỉ ngơi cho khỏe, vì dù sao anh cũng đã cống hiến nhiều cho đất nước rồi, phụ trách một lúc nhiều công việc như thế này có mệt mỏi lắm không anh?”. Anh cười thật hiền nói: “Ở cái tuổi nào cũng vậy, còn sức khỏe, còn giúp ích được gì cho Tổ quốc, cho xã hội thì cứ làm. Sở dĩ tôi làm việc cho Hội Nạn nhân chất độc da cam là vì tôi cũng có con và cháu bị nhiễm chất độc này từ cha. Nhìn con cháu mình, nhìn những đứa trẻ vô tội bị hành hạ bởi sự vô nhân đạo của những con người vô nhân đạo kia mà đau lòng. Tôi muốn đòi lại công bằng cho những nạn nhân ấy, nên sẽ làm tất cả…”. Đang bước dần vào cái tuổi “thất thập cổ lai hy” mà tinh thần yêu nước của một cựu chiến binh như anh quả là hiếm. 
 
Những năm tháng chiến đấu gian khổ ngoài chiến trường, những cống hiến cho quê hương, cho xã hội của Lê Ngọc Sơn đã được đền bù xứng đáng bằng những tấm huân chương cao quý. Tôi vinh dự được anh cho xem rất nhiều huân chương khen thưởng thành tích của một thuở mở đường Trường Sơn năm xưa. Trong đó, gần nhất là Huân chương Kháng chiến hạng Nhì của Chủ tịch nước Trần Đức Lương trao tặng tháng 6/1999 và năm 2001 được Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Lào trao Huân chương Tự do hạng Nhất cho cựu cán bộ, chuyên gia tình nguyện quân chiến đấu ở chiến trường Lào trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. 
 
Tôi lặng lẽ nhìn người cựu chiến binh ngồi trước mặt, chợt nhớ ra mấy câu thơ có nét giống tâm trạng của anh thuở ấy, mà không nhớ nổi là của ai: “… Tôi hỡi tôi xin đừng chết nhé/ Bóng hòa bình thấp thoáng ở miền Nam/ Ngày ta mong nằm trong tầm tay với/ Sao thấy lòng chưa dứt nỗi hoang mang…”. Khi có lệnh tổng tấn công 1975, từng đoàn quân ào ạt trên con đường Trường Sơn tiến vào Sài Gòn, các anh vừa vui mừng vừa hoang mang lắm không biết mình có còn sống đến ngày mong đợi không. Nhưng không cùng với nhịp chân giải phóng là ý chí thôi thúc “Hòa bình đang nằm trong tầm tay chúng ta, ngày giải phóng miền Nam đang nằm trong tầm tay chúng ta, tôi không được chết, chúng ta không được chết!”. Tôi chợt mỉm cười với riêng mình. Còn biết nói gì hơn, tôi chỉ biết thầm tạ ơn. Tạ ơn người đã cho tôi sống lại cái cảm xúc của chiến tranh đã đi qua. Mà ở đó có mùi của đất, mùi của những giọt máu, nước mắt và mồ hôi, mùi của hương hoa, mùi của tình yêu thương con người… Tạ ơn người đã cho tôi biết tri ân những người đi mở đường Trường Sơn thuở ấy và tri ân những người đã nằm xuống trên con đường huyền thoại.
 
Bút ký: ÐẶNG THANH LIỄU
,
.