Nhớ sương
Cập nhật lúc 07:48, Thứ Năm, 11/04/2019 (GMT+7)
Mười tám năm gắn bó với xứ lạnh rồi xa. Lang thang kỳ hồ về đô hội phồn hoa Nam, Bắc. Thả bộ phố đêm Pleiku, run rẩy đắm mình trong hơi rét buôn buốt triền rừng Tam Đảo... Phong phanh đón gió biển mặn mòi đến ran rát dưới ánh cao áp vàng rực u u ở biển đêm Phan Rang - Tháp Chàm... Vậy mà thấm thoắt đã gần sáu niên hạn tôi xa xứ sương mù Đà Lạt. Thổn thức, nhớ. Thổn thức, đê mê mong và khỏi phải nói là không quên nổi điều gì tưởng như đã cũ ở phố thông, phố gió. Kỳ lạ chưa, nhớ những điều bàng bạc như mù mưa và nhớ... sương nơi miền yêu ấy kinh khủng.
 
Sương mù tạt thẳng vào người buốt lạnh tầm quãng vào giờ gần sáng của khoảng hơn hai mươi năm trước khi chiếc xe đò cà khổ mất hơn ba mươi tiếng ì ạch từ miền Trung đưa tôi ném xuống bến xe đầu đèo Preen đã khiến lữ khách đắm đuối với sương mù. Dày đặc kỳ lạ, lạnh lẽo kỳ lạ và cả ngọt đến khó hiểu nếu bạn “dũng cảm” há rộng miệng và hít hà thật sâu cái làn sương đặc quánh và lãng mạn lúc ấy. Mấy bác xe thồ chào mời với âm sắc nền nã nho nhỏ (có lẽ vì quá quen hơi lạnh xứ núi và cả nếp lịch sự cố hữu chăng?) nhưng tôi vẫn quyết định thả bộ theo sương. Người viết xin thú thật là rất bình yên về tâm khảm nhưng không cưỡng nổi sở thích bất ngờ là muốn đưa tay vuốt lên đầu mình khi sương đã đẫm mái tóc bơ phờ sau gần hai ngày vạ vật trên “ông” xe đò cà khổ. Cái thói lãng mạn…cuồng cuồng này đã “hành” tôi hàng trăm đêm suốt quãng cư ngụ gần hai thập kỷ ở phố núi thân thương. Kể ra có những sự “không giống ai” thật đã đời với một kẻ “lỡ mình học văn, học ngữ” và lỡ yêu những điều không trùng lặp cùng ai. Một người bạn cùng xứ và là đồng nghiệp phán: “Quả thật mày không bình thường lắm!”. Chà, chà! Có lẽ bạn tôi đã đúng và không khôi hài.
 
Bươn chải để sống, để dựng xây, để sánh duyên hạnh phúc và để ấm áp tình người cùng tình đời nơi xứ lạnh có lúc đến quăng quật bầm dập nhưng sự keo sơn với gió, với sương Đà Lạt trong tôi vẫn không thể nào khác với đêm xưa tận năm nảo năm nào. 
 
Cái cách tôi chọn điểm chiêm ngưỡng sương cũng khác người chăng. Từ đỉnh tình huyền sử Langbiang lúc bảy giờ sáng một mùa mưa, trong màn sương mù dày bất tận và trắng nôn nao hình như Đà Lạt không tồn tại một... nóc nhà nào. Tháp sắt Bưu điện trung tâm, Nhà thờ Con Gà hay đỉnh tháp kiến trúc cong Cao đẳng Sư phạm của tỉnh trên cung đường Yersin cũng chật vật lắm mới vượt nổi lên biển sương vài mét. Thảm ngọn thông cao vài chục mét bên lộ Hùng Vương, Trần Hưng Đạo hay Thái Phiên, Trại Mát..., cũng chỉ khuất lấp như lòa xòa trên rừng sương trắng mê hồn. Hàng nghìn nhà kính, nhà nilon trồng bông hay cả trăm thứ rau, dâu... cũng không hề nhìn thấy bởi quá thấp và cũng bạc như sương. Trong ấy, dưới sương, mỗi mẹ, mỗi chị vẫn cần mẫn quấn kín thân hình trong len trong dạ để hoa, để rau và để người tô điểm cho phố hoa bừng tỏa. 
 
Còn thả bộ lên đỉnh đồi cáp treo trong đêm sương mùa khô ngày còn cầm bút cách nay bảy, tám mươi con trăng gì đó thì lại hứng thú kỳ lạ hơn. Con đèo Prenn dài đâu hơn mười cây số khuất chìm dưới thảm thông hàng vạn cây cổ thụ có tuổi gần bằng hai đời người chỉ được phát hiện nhờ dòng sông ánh sáng của xe, xe và xe. Tôi không hiểu từ “Prenn” của cung đèo này là gì, hình như là cách gọi con đường rừng hiểm trở dẫn xuống suối của tộc danh thiểu số Cill, Lạch bản địa thuở bác sĩ Yersin chưa tìm ra “Paris của Đông Dương” thì phải? Nhưng trong đêm sương thì tên gọi có hề gì, cung đèo vẫn đẹp như một dòng sông ánh sáng chảy ngược lên đỉnh núi. Người ta đang ngày đêm nườm nượp tìm về Đà Lạt, đến phố lạnh để yêu sương, yêu thông như thân tôi vậy mà. Quay lưng lại phía đèo, ngắm về phố đường Ba tháng Tư, phôn cho anh bạn bật giùm bóng đèn an ninh trên vỉ ruồi lầu năm. Im lặng nhưng anh bạn chiến hữu làm ngay. Ánh sáng của đèn là khái niệm sáng rõ rất vật lý nhưng ngắm làn sương bủa vây làm cái chao đèn nhỏ dần rồi khuất hẳn, cảm giác miên man lại tràn ngập. Người bạn chủ nhân căn nhà cao bê tông đó của tôi thì ngược lại lắm, bạn đã khiến tôi ấm áp yên lòng triền miên cả quãng đời ngụ cư nơi xứ lạnh. Mỗi lần lỡ đường, buốt tay trên “cỗ xe hai bánh cà khổ” trong những chặng bôn ba, rong ruổi tôi đã chẳng thể nào quên cả cái va li áo, khăn, tất vớ mà bạn đã mang đến phòng trọ ngày chân chưa hết mỏi khi lạc bước vào Đà Lạt. Cũng chẳng thể nào quên những cú phôn kiểu “chăn đủ ấm không, tao mang qua thêm” với giọng “trọ trẹ” của người vong niên giờ đã cầm bút ấy. 
 
Người “không bình thường” như bạn đã từng phán thuở trước còn có cái sở thích cũng... không bình thường là bơi thuyền trong hồ Đan Kia - Suối Vàng để “đắm” sương chìm trong yên lặng gần như tuyệt đối. Cái xứ Suối Vàng ấy bình yên và vắng lặng đến bất ngờ trong mỗi đêm sương khuya. Ngồi yên trên con thuyền cũng nằm lặng trên mặt hồ có thể sẽ thảng thốt nếu như bạn bỗng nhiên nghe tiếng đớp mồi dũng mãnh của một chàng cá quả say mồi. Có thể bạn không tin nhưng với tôi tiếng động đó không đủ để phá vỡ bình yên và thinh không của thung lũng đẹp Đan Kia. Du khách chen chúc thích những bức ảnh bên dăm bảy “cụ” thông, yêu ánh nắng xuyên qua vô vàn vòm tán lá kim dày đặc đổ vãi vương trên màu xanh thảm cỏ... Còn tôi, với trái tim nóng bỏng và cái đầu lành lạnh bình thản thì lại mê khó cưỡng sự yên bình, vắng lặng kỳ lạ của tiếp nối triền rừng thưa trong vùng thấp thung lũng. Nơi ấy sao lại giúp ta cảm nhận mọi thứ diệu vợi đến thế!
 
Bạn tôi nói đúng. Khi người ta còn cảm nhận mọi thứ không cụ thể, còn bạc bạc như sương nghĩa là người ta không thể quên. Sáu năm hay dài hơn thế nhiều lần, nào tôi có quên nổi điều gì nơi phố hoa, phố lạnh. Có ai đó hình như là một nhà thơ đã đặt bút: “Năm tháng trôi đi chẳng biến thành nỗi nhớ/ Nhưng chỉ một lần gặp gỡ/ Một thoáng nhìn/ Mãi trăn trở trong nhau”. Mà với tôi thì gần hai thập kỷ cơ mà. Và nhớ sương không bàng bạc mà là hiện hữu.
 
TRẦN SƠN TÙNG
,
.