Tính toàn diện về giá trị cộng đồng của văn hóa dân tộc bản địa (Bài 2)

Cập nhật lúc 06:42, Thứ Hai, 08/07/2019 (GMT+7)
Khôi phục và bảo tồn không chỉ dựa vào chủ thể văn hóa
 
Khái niệm “khôi phục” và “bảo tồn” văn hóa (VH) là hai quá trình diễn tiến - cái có trước, cái có sau: “thâu phục được cái đã mất” (khôi phục) và “giữ gìn” (bảo tồn) - Nguyễn Văn Khôn - Hán-Việt từ điển, Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn. 1960. Cả hai nhiệm vụ đều khó khăn, đặc biệt là địa hạt “giá trị VH bản địa”. 
 
Những di sản văn hóa các dân tộc bản địa tại Lâm Đồng luôn thu hút khách tham quan ở Bảo tàng. Ảnh: M.Đạo
Những di sản văn hóa các dân tộc bản địa tại Lâm Đồng luôn thu hút khách tham quan ở Bảo tàng. Ảnh: M.Đạo
 
Như đã nêu tại bài trước, nhiệm vụ khôi phục và bảo tồn VH một lúc phải đạt được cả 4 đặc trưng cơ bản của VH: hệ thống, giá trị, lịch sử, nhân sinh. Chúng tôi nhấn mạnh, muốn “khôi phục” và “bảo tồn” thì giải pháp của mọi giải pháp là đồng thời đáp ứng được nhu cầu-nghĩa vụ và đối tượng-quyền lợi của chủ thể VH. “Khôi phục” và “bảo tồn” đều nhằm mục tiêu đi đến sự “phục hưng”. Vì thế, “thâu phục được cái đã mất” đã khó, “giữ gìn” nó được lâu dài, bền vững lại càng khó. 
 
Trong thực tiễn, không ít giá trị VH bản địa đã mai một, thậm chí sai lệch. Nguyên nhân do cả chủ quan và khách quan như: thời gian, không gian, tác động mặt tiêu cực của giao thoa, của tiếp biến; nhu cầu và năng lực thẩm mĩ .v.v... Vì vậy, theo chúng tôi, điều cần trước tiên không phải là chủ thể - đối tượng của VH, mà là những tác động từ bên ngoài. Bởi, “trong khối người (các sắc tộc bản địa - PV) mà mới nhìn qua thấy có một sự thuần khiết về hình thức và trình độ khai hóa đó, lại có nhiều sự khác biệt phức tạp về ngôn ngữ, tập quán, tính tình” (Cửu Long Giang - Toan Ánh, Cao nguyên miền Thượng, Sài Gòn, 1974, tr.205). Việc “phục hồi” và “bảo tồn” trước hết phải nắm vững những đặc trưng của những “hạt” và “vỉa” VH tương đồng cũng như dị biệt của từng VH bản địa mỗi sắc tộc. Nó thể hiện ở các mặt: sản xuất nông nghiệp; cư trú; giao thông; chế độ xã hội; tôn giáo; văn học dân gian; VH khảo cổ... Có vậy thì mới đưa ra những tiêu chí phù hợp để cái gì cần “thâu phục” khi nó đã và đang “mất”, cái gì phải “giữ gìn” khi nó đang mai một, sai lệch. Nghĩa là phải chọn lựa khoa học và chính từ thực thể nội tại. 
 
Bảo tồn và phát triển VH dân tộc nói chung, dân tộc bản địa nói riêng, cần nhận thức dứt khoát, đây là hai nhiệm vụ nối tiếp nhau. Bảo tồn VH dân tộc là làm cho nó lớn mạnh, giàu lên, thông qua nảy sinh những yếu tố mới, lúc này nó đã đạt tới ý nghĩa “phục hưng” như đã nêu. Dĩ nhiên, tính “xê dịch” đối tượng VH vẫn phải tôn trọng những cái vốn tinh hoa của nó. Lúc này, tính xã hội hóa, cộng đồng hóa trong công cuộc “khôi phục và bảo tồn các giá trị truyền thống VH của các dân tộc bản địa” trở thành “đơn hàng” quan trọng và tất yếu. Trả lại cho cộng đồng cái gì thuộc về cộng đồng mới là trở về bản chất của VH dân tộc bản địa.
 
Khi đã có những lựa chọn chính xác, xác đáng, thì quá trình “khôi phục” và “bảo tồn” cần triển khai nhiều biện pháp. Đó là tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức “khôi phục” và “giữ gìn” những tinh hoa của VH; là trao truyền kỹ năng cho chủ thể sáng tạo VH; là tập huấn năng lực tiếp cận, khai thác, xử lý, những chính sách động viên, khích lệ niềm đam mê về VH dân tộc... đối với đội ngũ làm công tác VH. Đến đây đã cho thấy điều kiện có tính tiên quyết, đó chính là vai trò của các cơ quan quản lý Nhà nước, của các ban, các ngành, các địa phương liên quan. Việc vào cuộc bằng các hành động đồng hành và hỗ trợ đắc lực từ cơ chế, chính sách, tài chính đến hoạt động trên các lĩnh vực văn hóa, du lịch, giáo dục, bảo tàng... vô cùng quan trọng, có tính quy định của vấn đề khôi phục và bảo tồn giá trị VH. Tuy Nhà nước không làm hộ cho người dân, nhưng Nhà nước đóng vai trò “bà đỡ” cực kỳ quan trọng để giải bài toán “có thực mới vực được đạo”. Mặt khác, vai trò Nhà nước còn ở chỗ, định hướng cho dòng VH chảy đúng trong quá trình hội nhập, dĩ nhiên không phải là những hành động thô bạo theo kiểu “nắn dòng” áp đặt, mà là ở chỗ: gạn đục, khơi trong, tiếp sức phát huy những tinh túy để dòng VH đó gia tăng. 
 
Vì khuôn khổ bài viết, chúng tôi chỉ nêu vấn đề vỡ vạc và gợi mở. Nhưng những vấn đề này không chỉ là lý luận mà đã kiểm chứng từ thực tiễn hàng chục năm nay qua những chuyến điền dã tại nhiều địa bàn của tỉnh Lâm Đồng. Quá trình đó, chúng tôi vinh dự được trực tiếp chứng kiến, ghi nhận những “hạt sáng lấp lánh” của VH các dân tộc ít người gốc Nam Tây Nguyên; dĩ nhiên, nó cũng đã và đang mai một, phai nhạt, thậm chí xê dịch tiêu cực như đã nêu. Những địa chỉ mà chúng tôi đã qua, đó là: nghề dệt thổ cẩm ở thôn Bun Go, xã Phù Mỹ, huyện Cát Tiên; thôn Đạ Nha, xã Quốc Oai, huyện Đạ Tẻh; thôn Đam Pao, xã Đạ Đờn, huyện Lâm Hà; Thôn 1, xã Đưng K’Nơh, huyện Lạc Dương .v.v... Đó là những nghệ nhân folklore (VH dân gian) tại các xã Lạc Lâm, Tu Tra, P’róh, huyện Đơn Dương; xã Đồng Nai Thượng, huyện Cát Tiên; các xã Bảo Thuận, Đinh Lạc, Tân Thượng, huyện Di Linh; các xã Lộc Bắc, Lộc Bảo, huyện Bảo Lâm; các xã Tà Năng, Ninh Loan, huyện Đức Trọng; các xã Đưng K’Nơh, Đạ Nhim, huyện Lạc Dương .v.v... Trong số đó, cũng có những nơi đã và đang có những hành động để “khôi phục” và “bảo tồn” những nghề truyền thống của đồng bào các dân tộc bản địa Lâm Đồng, đó là làm đồ gốm, nhẫn bạc, khèn M’buốt ở Đơn Dương; dệt thổ cẩm ở Cát Tiên, Lạc Dương, Lâm Hà, Lạc Dương; đan gùi hoa ở Di Linh hay nhiều địa bàn khác. Và đó đặc biệt là đã và đang tổ chức hành động trao truyền âm nhạc Tây Nguyên, trong đó chủ yếu là VH chiêng và một phần VH về dân vũ... 
 
Nghệ nhân Kim Thơm là người có công lớn trong việc duy trì nghề dệt thổ cẩm của dân tộc Kơ Ho ở Lâm Hà. Ảnh: M.Đạo
Nghệ nhân Kim Thơm là người có công lớn trong việc duy trì nghề dệt thổ cẩm của dân tộc Kơ Ho ở Lâm Hà. Ảnh: M.Đạo
 
Cuối tháng 7 năm 2018, tại “Hội nghị Bảo vệ và phát huy giá trị di sản VH Việt Nam vì sự phát triển bền vững” do Bộ VH-TT&DL tổ chức, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nhấn mạnh: “Cái gì cũng có thể xây được, sản xuất được, sáng tác được, nhưng di sản thì không thể tạo ra được” (...). “Để mất di sản, dù là một phần, chính là bắn súng vào quá khứ, đánh mất bản sắc dân tộc”. Bởi, đó là báu vật, hoặc do thiên nhiên ban tặng, hoặc là sự kết tinh lao động sáng tạo mà ông cha ta từ đời này qua đời khác đã dày công tạo dựng. Người đứng đầu Chính phủ đã đặt trách nhiệm đến mọi ngành, mọi cấp và cả cộng đồng hôm nay với một tinh thần quyết liệt, rằng: “Di sản không phải là di sản chết mà phải đóng góp vào phát triển bền vững. Như vậy chúng ta có nhiệm vụ làm di sản luôn hồi sinh và tồn tại có ích. Để phát huy giá trị di sản phi vật thể cần tôn vinh các nghệ nhân và coi họ chính là báu vật sống của quốc gia. Giải quyết hài hòa lợi ích giữa bảo tồn và phát triển, gìn giữ di sản và phát triển du lịch”. 
 
Ở Lâm Đồng, như đã nói, thời gian qua đã có những chuyển biến trong công cuộc khôi phục và giữ gìn bản sắc VH dân tộc bản địa trên địa bàn. (Ví dụ, từ năm 2009 đến nay, tỉnh Lâm Đồng đã mở hơn 50 lớp dạy cồng chiêng cho khoảng 1.200 người thuộc các dân tộc Mạ, Kơ Ho, Churu; khảo cứu và sưu tầm được khá nhiều hiện vật để bảo tồn, bảo tàng; hỗ trợ một phần phát triển nghề thổ cẩm, phục dựng một vài lễ hội...). Đáng vui hơn, năm 2018, UBND tỉnh đã phê duyệt Đề án “Bảo tồn và phát triển Không gian VH cồng chiêng Tây Nguyên các dân tộc tỉnh Lâm Đồng đến năm 2020”. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, đây vẫn là những bước đi ban đầu, chưa xứng tầm với những giá trị thực của VH dân tộc bản địa. Phía trước đang là chặng đường dài, rất dài, mới khả dĩ mục tiêu khôi phục và bảo tồn như mong muốn. Hy vọng sau Hội thảo khoa học “Giải pháp khôi phục và bảo tồn các giá trị truyền thống văn hóa của các dân tộc bản địa tại Lâm Đồng” do Liên hiệp Hội Khoa học và Kỹ thuật Lâm Đồng tổ chức vào cuối tháng 6 năm 2019, Lâm Đồng sẽ có những chương trình, kế hoạch hành động mạnh mẽ, quyết liệt và bài bản về công cuộc khôi phục và bảo tồn những giá trị truyền thống của dân tộc bản địa vùng đất Nam Tây Nguyên. Thực hiện nhiệm vụ quan trọng này, chắc chắn ngày càng phải đối diện với nhiều khó khăn hơn, nhưng không thể không làm.
 
PHAN MINH ÐẠO
,