Thay đổi việc xác định thôn đặc biệt khó khăn, xã thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi
Cập nhật lúc 07:59, Thứ Hai, 17/04/2017 (GMT+7)
Để chính sách dân tộc tiếp tục phát huy hiệu quả trong thời gian tới, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định về tiêu chí xác định thôn đặc biệt khó khăn, xã thuộc vùng dân tộc thiểu số (DTTS) và miền núi giai đoạn 2016 - 2020 nhằm quan tâm đầu tư phát triển.
 
Đồng chí Nguyễn Xuân Tiến - Bí thư Tỉnh ủy trò chuyện với bà con DTTS ở Đam Rông. Ảnh: N.N
Đồng chí Nguyễn Xuân Tiến - Bí thư Tỉnh ủy trò chuyện với bà con DTTS ở Đam Rông. Ảnh: N.N
Theo đó, xã thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi được xác định theo ba khu vực: Xã khu vực III là xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; xã khu vực II là xã có điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn nhưng đã tạm thời ổn định và khu vực I là các xã còn lại.
 
Cụ thể, xã khu vực III là xã có ít nhất 2 trong 3 tiêu chí sau: Số thôn đặc biệt khó khăn còn từ 35% trở lên (tiêu chí bắt buộc); tổng tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo từ 65% trở lên (trong đó tỷ lệ hộ nghèo từ 35% trở lên) theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 - 2020. Tổng tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo từ 55% trở lên (các tỉnh khu vực Đông Nam Bộ, khu vực đồng bằng sông Cửu Long từ 30% trở lên) theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 - 2020 và có ít nhất 3 trong 6 điều kiện sau (đối với xã có số hộ dân tộc thiểu số từ 60% trở lên, cần có ít nhất 2 trong 6 điều kiện). Trục chính đường giao thông đến ủy ban nhân dân xã hoặc đường liên xã chưa được nhựa hóa, bê tông hóa theo tiêu chí nông thôn mới; trường mầm non, trường tiểu học hoặc trường trung học cơ sở chưa đạt chuẩn quốc gia theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; chưa đạt Tiêu chí quốc gia về y tế xã theo quy định của Bộ Y tế; chưa có trung tâm văn hóa, thể thao xã theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; còn từ 20% số hộ trở lên chưa có nước sinh hoạt hợp vệ sinh; còn từ 40% số hộ trở lên chưa có nhà tiêu hợp vệ sinh theo quy định của Bộ Y tế.
 
Dựa vào các tiêu chí đã nêu và kết quả rà soát trên toàn tỉnh, Lâm Đồng hiện có 23 xã khu vực III (tăng 2 xã), 43 xã khu vực II (giảm 2 xã) và 81 xã, phường, thị trấn khu vực I. 

Xã khu vực II là xã có một trong 3 tiêu chí sau: Tổng tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo từ 55% trở lên (các tỉnh khu vực Đông Nam Bộ, khu vực đồng bằng sông Cửu Long từ 30% trở lên) theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 - 2020 và có không đủ 3 trong 6 điều kiện (đối với xã có số hộ dân tộc thiểu số từ 60% trở lên, có không đủ 2 trong 6 điều kiện) quy định nêu trên. Tổng tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo từ 15% đến dưới 55% (các tỉnh khu vực Đông Nam Bộ, khu vực đồng bằng sông Cửu Long từ 15% đến dưới 30%) theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 - 2020; tổng tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo dưới 15% theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 - 2020 và có ít nhất một thôn đặc biệt khó khăn.

Tiêu chí xã khu vực I là các xã còn lại thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi không phải xã khu vực III và xã khu vực II.
 
Theo thông tin từ Ban Dân tộc tỉnh, trên cơ sở Quyết định mới của Thủ tướng Chính phủ, công văn chỉ đạo triển khai Quyết định của Thủ tướng, UBND tỉnh Lâm Đồng đã giao cho Ban Dân tộc tỉnh chủ trì, phối hợp với sở, ngành, đơn vị liên quan và UBND các huyện, thành phố tham mưu UBND tỉnh tổ chức triển khai thực hiện xác định thôn đặc biệt khó khăn, xã thuộc vùng DTTS giai đoạn 2016 - 2020 theo tiêu chí mới trên địa bàn tỉnh.
 
Cùng đó là 147 thôn đặc biệt khó khăn; trong đó có 80 thôn nằm ở xã khu vực III, 64 thôn nằm ở xã khu vực II, 3 thôn nằm ở xã khu vực I.
 
Song song với quyết định về tiêu chí xác định thôn đặc biệt khó khăn, xã thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2016 - 2020, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ban hành Quyết định về việc phê duyệt Chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2017 - 2020.
 
Mục tiêu của chính sách tập trung giải quyết những vấn đề khó khăn, bức xúc nhất về đời sống, sản xuất; từng bước cải thiện và nâng cao điều kiện sống cho hộ dân tộc thiểu số nghèo, hộ nghèo ở vùng đặc biệt khó khăn; góp phần giảm nghèo bền vững, giảm dần chênh lệch trong phát triển giữa vùng dân tộc thiểu số và miền núi với các vùng khác trong cả nước. Góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo ở vùng DTTS và miền núi từ 3% đến 4%/năm theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020. Giải quyết đất sản xuất, chuyển đổi nghề cho trên 80% số hộ đồng bào DTTS nghèo, hộ nghèo ở vùng đặc biệt khó khăn thiếu đất sản xuất; cơ bản giải quyết tình trạng thiếu nước sinh hoạt cho hộ DTTS nghèo và hộ nghèo sống phân tán ở vùng đặc biệt khó khăn. Hoàn thành các dự án định canh định cư tập trung theo kế hoạch được duyệt để tiếp tục bố trí sắp xếp dân cư nhằm ổn định đời sống, phát triển sản xuất cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số du canh, du cư còn lại theo Quyết định số 1342/QĐ-TTg ngày 25 tháng 8 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ. Tạo điều kiện thuận lợi để hộ DTTS nghèo, hộ nghèo ở vùng đặc biệt khó khăn vay vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất. Chính sách này được thực hiện ở vùng DTTS và miền núi.
 
Chính sách này sẽ được hỗ trợ trực tiếp đến hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo; hộ nghèo ở xã khu vực III, thôn, bản đặc biệt khó khăn.
 
N. NGÀ
,
.