CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU Y TẾ - DÂN SỐ (DỰ ÁN 8)
Tổng quan về bệnh đái tháo đường
Cập nhật lúc 09:01, Thứ Ba, 06/03/2018 (GMT+7)
Tình hình mắc bệnh đái tháo đường (ÐTÐ) ở Việt Nam đã và đang có chiều hướng gia tăng nhanh chóng do các yếu tố dinh dưỡng không hợp lý, ít hoạt động thể chất, thừa cân, béo phì… Bệnh ÐTÐ đã, đang và sẽ luôn là gánh nặng đối với sự phát triển kinh tế, xã hội do tính phổ biến và hậu quả nặng nề dẫn đến tàn phế hoặc tử vong do được phát hiện và điều trị muộn.   
 
Đái tháo đường là một bệnh tăng đường huyết mạn tính, do thiếu insuline tương đối hay tuyệt đối, nếu không kiểm soát tốt, sau một thời gian tiến triển kéo dài có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm cho cơ thể. Theo các thống kê, có khoảng 20 - 40% các bệnh nhân ĐTĐ sẽ bị biến chứng thận, trong đó có nhiều bệnh nhân ĐTĐ type 2 đã có protein niệu ngay khi được phát hiện ĐTĐ, còn với bệnh nhân ĐTĐ type 1 thì sau 10 năm bị bệnh có khoảng 50% số bệnh nhân đã có suy thận giai đoạn cuối và sau 20 năm thì con số này đã lên tới 75%. 
 
Bệnh ĐTĐ được phân ra các loại sau đây: ĐTĐ type 1 (ĐTĐ phụ thuộc insuline) xảy ra ở người trẻ, phần lớn từ 10 - 20 tuổi; tỷ lệ mắc cao ở các gia đình có người bị ĐTĐ phụ thuộc insuline; thường ở người có kháng nguyên bạch cầu người nhóm DR3 (HLA-DR3) và HLA-DR4; có kháng thể kháng tiểu đảo langerhanse của tuyến tụy. ĐTĐ type 2 (ĐTĐ không phụ thuộc insuline) thường xảy ra ở người trên 35 tuổi; đường huyết thường tăng cao nhiều năm trước khi được chẩn đoán; thường ở người có triệu chứng nhẹ, được chẩn đoán tình cờ; sự tiết insuline thấp tương đối có sự kháng tác dụng insuline ở tổ chức ngoại biên và gan.  ĐTĐ thai kỳ thường gặp ở phụ nữ có thai có đường huyết tăng hoặc giảm dung nạp glucose, gặp khi có thai lần đầu và thường mất đi sau đẻ; sự tiến triển của ĐTĐ thai kỳ sau đẻ theo 3 khả năng (trở thành ĐTĐ thực sự khi đường huyết lúc đói > 8 mmol/lít và nghiệm pháp tăng đường huyết > 11 mmol/lít; chỉ là giảm dung nạp glucose khi đường huyết lúc đói từ 6 - 8 mmol/lít và nghiệm pháp tăng đường huyết từ 8 - 11 mmol/lít; chỉ là ĐTĐ khi mang thai khi đường huyết lúc đói và nghiệm pháp tăng đường huyết bình thường; loại ĐTĐ này gặp từ 1 - 2% người mang thai, thường gặp ở người có tiền sử gia đình có ĐTĐ).
 
Triệu chứng lâm sàng cổ điển: các triệu chứng rầm rộ thường ít gặp, trừ giai đoạn mất bù, có 4 triệu chứng: ăn nhiều, sụt cân, đái nhiều, uống nhiều. Triệu chứng sinh hóa: chẩn đoán xác định ĐTĐ khi đường máu lúc đói ≥ 126 mg% hoặc đường máu sau 2 giờ uống glucose ≥ 200 mg% hoặc có triệu chứng của ĐTĐ và đường máu bất kỳ ≥ 200 mg%. Các xét nghiệm khác: Đường niệu, chỉ có tăng đường huyết mới khẳng định chẩn đoán, việc phát hiện đường niệu ngay cả với phương pháp đặc hiệu glucose-oxydase cũng phải đối chiếu với đường huyết để loại trừ đường do thận; Hemoglubine glycosyl hóa: HbA1C tương quan chặt chẽ với giá trị đường huyết trong một thời gian dài, chỉ có giá trị theo dõi, không phải là tiêu chuẩn chẩn đoán.
 
Biến chứng vi mạch: ĐTĐ làm tổn thương các mạch máu nhỏ có đường kính < 30 µm do đó có tác động đến tất cả các cơ quan. Biến chứng võng mạc: ĐTĐ làm tổn thương võng mạc dẫn đến giảm thị lực, thậm chí gây mù lòa. Biến chứng thận do đái đường: tổn thương cuộn mạch cầu thận do màng đáy mao mạch dày và xuất hiện các lắng cặn dạng màng; sau một thời gian dài không triệu chứng, có thể xuất hiện albumin siêu nhỏ, với lượng > 30 µg/lít, độ lọc cầu thận giảm, xuất hiện hội chứng thận hư, creatinine máu tăng cao. 
 
Biến chứng mạch máu lớn như: suy mạch vành; bệnh động mạch chi dưới; tai biến mạch máu não; cơn tăng huyết áp; xơ vữa động mạch và rối loạn chuyển hóa lipid. Các biến chứng mạn tính khác như: biến chứng ngoài da, ngứa lan tỏa ngoài da, hình thành u hạt hình vành khăn, bọng nước vô căn, nhiễm nấm sinh dục. Các biến chứng khác kết hợp với đái đường: nhiễm khuẩn, viêm răng miệng, biến chứng thần kinh ngoại biên, viêm quanh khớp vai... Các biến chứng chuyển hóa cấp: nhiễm toan cetone do đái đường; hôn mê do tăng thẩm thấu; nhiễm toan acid lactic.
 
ĐTĐ thứ phát xuất hiện sau khi bị các bệnh của tụy, gan hoặc bệnh ĐTĐ do nguyên nhân nội tiết. ĐTĐ do bệnh lý ty thể là ĐTĐ di truyền hoàn toàn từ mẹ sang con do sự khuyết đoạn hay đột biến AND ty thể, chiếm 1 - 10% số bệnh nhân ĐTĐ; thường kèm theo điếc dẫn truyền hai bên, viêm võng mạc sắc tố không điển hình; có thể gặp ở mọi lứa tuổi và diễn tiến dần về hướng cần insuline. ĐTĐ thể MODY (Maturity Onset diabetes of Young) chiếm gần 5% ĐTĐ không phụ thuộc insuline; là thể ĐTĐ khởi phát sớm (trước tuổi 25) di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường, đặc trưng bởi các bất thường về tiết insuline. Các hội chứng đề kháng insuline quá độ là các hội chứng di truyền hiếm gặp, thường kết hợp với bệnh gai đen và kèm theo tình trạng cường androgene. Bất thường về insuline: các bất thường về cấu trúc insuline quyết định bởi các gen là một nguyên nhân hiếm gặp của bệnh ĐTĐ. Hội chứng di truyền liên quan với ĐTĐ như: Hội chứng Tam bội nhiễm sắc thể 21, hội chứng Turner, hội chứng Wolfram…
 
Điều trị ĐTĐ type 2 dựa trên việc giáo dục bệnh nhân thực hiện chế độ ăn thích hợp, hoạt động thể chất đều đặn, dùng thuốc hạ đường huyết theo chỉ dẫn của thầy thuốc, tự theo dõi và thăm khám chuyên khoa định kỳ. Chế độ ăn phù hợp thích ứng cho từng bệnh nhân là cần thiết và một chế độ tiết chế thích hợp cũng có khả năng làm giảm đường huyết; kiêng sử dụng các loại thức uống có cồn và các thức uống đóng chai sẵn có ga, tăng cường ăn các thức ăn có nhiều chất xơ. Giảm cân sẽ làm giảm tình trạng kháng insuline, do đó cải thiện cân bằng chuyển hóa, sửa chữa trong đa số trường hợp các rối loạn chuyển hóa lipid và làm giảm huyết áp. Vận động thể lực, tập luyện thể dục thể thao thường xuyên làm giảm tính đề kháng với insuline và là một phần không thể thiếu được của việc điều trị và phòng tránh căn bệnh này; vận động thể lực sẽ được điều chỉnh tùy theo lứa tuổi và tình trạng tim mạch của người bệnh. Uống thuốc hạ đường huyết cần tuân thủ theo chỉ định của thầy thuốc và thực hiện khám định kỳ theo đúng quy định.
 
BS NGUYỄN VĂN LUYỆN - VÕ KIM HẢI
,
.