Chuyện đời mẹ Chững
Cập nhật lúc 09:24, Thứ Hai, 14/05/2018 (GMT+7)
Một ngày đầu tháng 5 trời nắng dịu nhẹ, chúng tôi tìm đến nhà Mẹ Việt Nam Anh hùng Lê Thị Chững (97 tuổi) tại khu phố Đồng Tâm, thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà để nghe những câu chuyện bi hùng đã tạo nên hình tượng một người phụ nữ mưu trí, kiên gan, âm thầm gánh chịu những hy sinh góp phần giải phóng quê hương, thống nhất đất nước.
 
“Vẫn như hàng chục năm về trước, mẹ vẫn là chỗ dựa tinh thần lớn lao cho cả đại gia đình. Tôi tự hào được làm con của mẹ” - ông Chế Cộng, con trai đầu của mẹ Chững xúc động nói về mẹ
“Vẫn như hàng chục năm về trước, mẹ vẫn là chỗ dựa tinh thần lớn lao cho cả đại gia đình. Tôi tự hào được làm con của mẹ” - ông Chế Cộng, con trai đầu của mẹ Chững xúc động nói về mẹ
Vẫn tin con còn sống!
 
Mỗi năm gia đình ông Chế Cộng (78 tuổi) - con trai lớn của mẹ Lê Thị Chững vẫn làm ba cái giỗ chính: Giỗ cha và giỗ hai người em là liệt sĩ. “Mấy chục năm rồi nhưng mẹ vẫn không tin các em tôi đã hy sinh. Đến ngày cúng giỗ mẹ cứ nói: chúng còn sống mà” - ông Cộng ngậm ngùi.
 
Theo tài liệu tại Ban Tổ chức Tỉnh ủy: Ông Chế Lễ (sinh năm 1921) là chồng Mẹ Việt Nam Anh hùng Lê Thị Chững. Sau một thời gian dài công tác trong quân đội, năm 1955 ông tập kết ra Bắc. Năm 1961, ông được điều vào Nam công tác ở đội sản xuất cơ quan tỉnh Tuyên Đức. Trải qua nhiều cương vị công tác khác nhau, đến những năm 1976, ông đảm nhiệm cương vị Phó Chủ tịch huyện Di Linh, Phó Chủ tịch huyện Bảo Lộc, Thường vụ Huyện ủy Bảo Lộc. 
 
Ông từng vinh dự được nhận Huân chương Chiến thắng hạng Ba năm 1958, Huân chương Quyết thắng hạng Nhất năm 1976, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất năm 1983, Huân chương Độc lập hạng Nhì năm 1998.

Mẹ Việt Nam Anh hùng Lê Thị Chững sinh ra tại xã Hành Tín Đông, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi. Mẹ có 5 người con, hai người mất lúc mới sinh, còn lại ba người. Theo hồ sơ làm chế độ chính sách cho mẹ ghi lại: Trong kháng chiến chống Pháp, mẹ Lê Thị Chững làm ruộng nuôi ba con khôn lớn khi chồng đi bộ đội. Trong kháng chiến chống Mỹ, chồng và con trai lớn tập kết ra Bắc. Chiến trường Quảng Ngãi ngày ấy mưa bom bão đạn mịt mù, suốt hai mươi năm ròng mẹ vừa bám trụ quê hương, vừa nuôi con, vừa làm cách mạng. 

 
Nhà mẹ Chững ngày ấy từng là cơ sở mật của cách mạng cho cán bộ nằm vùng. Đây cũng là địa điểm gặp gỡ họp bàn của cán bộ kháng chiến trên chiến trường Hành Tín Đông. Mẹ ủng hộ vật chất cho cán bộ, đội công tác mật. Ngoài ra, các nhiệm vụ khiêng đạn, vác súng, cáng thương binh, chôn cất bộ đội hy sinh... đều có sự tham gia của mẹ Chững. 
 
Mẹ đã sống những tháng ngày trong cảnh “ngày quản chế, đêm quản thúc” vì gia đình cộng sản có hai người ra miền Bắc tập kết, hai người đi bộ đội. Một mình mẹ bám trụ ở quê hương, địch vừa dụ dỗ vừa ép buộc mẹ lấy chồng khác nhằm bôi xấu, hạ uy tín của các gia đình cách mạng nhưng mẹ kiên trung kháng cự. 8 sào bắp cứ đến mùa có trái lại bị giặc Mỹ đi càn chặt trụi, chất độc da cam rải kín trời Hành Tín Đông. Dừa, mít trong vườn nhiễm chất độc héo rũ hết... nhưng mẹ vẫn kiên cường làm cơ sở cho cách mạng. Dù bị địch bắt tù đày và đánh đập, mẹ vẫn kiên quyết không khai. 
 
Nhiều lần chiếc nón trắng của mẹ Chững làm tín hiệu báo tin giữa cánh đồng để bộ đội mình đang ẩn nấp trong núi Cối, núi Nứa (hai ngọn núi lớn trên mảnh đất Hành Tín Đông) tránh được giặc càn, bảo toàn lực lượng. Trong đoàn quân ấy có hai con trai của mẹ lên đường nhập ngũ khi vừa tròn hai mươi.
 
Trên mảnh đất quê hương có máu xương của hai con trai mẹ Chững. Đó là Chế Minh Thảo hy sinh năm 1968 và Chế Minh Thư hy sinh năm 1972. Giấy báo tử của Quân khu V, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Nghĩa Bình hai lần ghi rõ: liệt sĩ Chế Minh Thảo và liệt sĩ Chế Minh Thư hi sinh trong trường hợp: Chiến đấu vì sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. 
 
“Mẹ ít khi nhắc với chúng tôi về quãng thời gian đau thương ấy. Bởi đó là lúc mẹ chết đi sống lại nhiều lần, chịu đựng hết lần này đến lần khác nỗi đau mất con. Nỗi đau ấy còn hơn cả xé thịt da, vụn vỡ tim, mất hết thần trí. Những lần về thăm quê, bà con chòm xóm vẫn nhắc với tôi chuyện ngày ấy: Nghe tin em Minh Thảo hy sinh, mẹ tôi lịm đi nhiều ngày. Bà cứ khóc suốt ngày đêm. Mắt sâu, tắt tiếng, người gầy rạc đi cũng vì nhiều đêm thức trắng khóc thương con. Chiến tranh quá tàn khốc. Trái tim mẹ chưa kịp lành, mẹ lại nhận tin Minh Thư hi sinh. Mẹ thẫn thờ như điên dại đi lại quanh xóm suốt ngày suốt đêm nhiều ngày liền để... tìm con” - ông Cộng rưng rưng kể về mẹ như vậy.
 
“Hạnh phúc đời tôi là làm con của mẹ”
 
Chiến tranh đã lùi xa, mấy chục năm đã trôi qua nhưng hôm nay khi hai giấy báo tử được đặt lên bàn, hai cái tên Chế Minh Thảo, Chế Minh Thư được nhắc lại, nỗi đau lại vừa như mới hôm qua. Khóe mắt mẹ rưng rưng như chực trào. Chỉ có thể chực trào thôi bởi “nước mắt mẹ không còn vì khóc những đứa con. Lần lượt ra đi... đi mãi mãi...”.
 
Chiến tranh loạn lạc, gia đình còn lại 3 người. Ba nhận nhiệm vụ công tác trong Nam, mẹ ở miền Trung, con ở ngoài Bắc. Không một thông tin liên lạc “nhiều lúc nghĩ quẩn, tôi cứ sợ ba, mẹ liệu có còn?” ông Cộng nói. Chiến tranh kết thúc, đất nước giải phóng, chúng tôi mới đi tìm nhau. Ba và tôi từ trong Nam, ngoài Bắc về quê tìm mẹ để rồi cả gia đình đoàn tụ ở Lâm Đồng. 
 
Với những đóng góp của mình, mẹ được hưởng chính sách như thương binh hạng 4/4. Ghi nhận công lao của mẹ, năm 2001 Chủ tịch nước đã ký quyết định trao tặng mẹ Huy chương Kháng chiến hạng Nhì vì đã có thành tích trong cuộc kháng chiến cống Mỹ cứu nước. Năm 2014, Chủ tịch nước trao tặng danh hiệu Mẹ Việt Nam Anh hùng cho mẹ với những cống hiến hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 
 
“Cuộc đời mẹ là minh chứng sống động cho sự khốc liệt đau thương của chiến tranh. Với riêng tôi, mẹ là người anh hùng nhất. Và vẫn như hàng chục năm về trước, mẹ vẫn là chỗ dựa tinh thần lớn lao cho cả đại gia đình. Tôi tự hào được làm con của mẹ” - ông Cộng xúc động chia sẻ.
 
N.NGÀ - C.THÀNH
,
.