Ký ức Hoàng Sa giữa lòng Ðà Nẵng
Cập nhật lúc 08:48, Thứ Năm, 11/10/2018 (GMT+7)
Buổi sáng, theo hướng mặt trời lên, những con tàu rời vịnh Ðà Nẵng rẽ sóng dong khơi. Ngư dân về với ngư trường Hoàng Sa như thợ cày đến với vườn ruộng nhà mình. Biển Ðông trước mặt giống chiếc  “bao lơn” của ngôi nhà Tổ quốc. Ðứng trên cầu Thuận Phước bên bán đảo Sơn Trà lộng gió, ngắm cờ đỏ sao vàng kiêu hãnh tung bay trên đỉnh những con tàu, tôi cảm nhận, lòng yêu nước được những ngư dân Ðà Nẵng thể hiện bằng chính cuộc mưu sinh thường nhật. Họ yêu biển, bám biển, làm công việc của mình trên vùng biển thân thương như hàng trăm, hàng ngàn năm nay cha ông họ từng làm…
 
Lão ngư miền Trung. Ảnh: Uông Thái Biểu
Lão ngư miền Trung. Ảnh: Uông Thái Biểu

Duyên phận lịch sử 
 
Biển Đông, với tầm nhìn xa rộng, cha ông từ hàng trăm năm trước đã xác lập chủ quyền, tạo kế sâu rễ bền gốc cho con cháu mai sau. Đó là nơi hy sinh máu xương của lớp lớp tiền nhân trong đại nghiệp mở cõi ra hướng biển. Minh chứng lịch sử không thể chối cãi là hệ thống những cứ liệu, sử liệu, những hải đồ, toàn đồ, những châu bản, mộc bản, những đền đài, miếu mạo và cả những ngôi mộ gió của các thủy quân thuộc Đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải vào thời nhà Nguyễn vẫn còn đó trên triền cát Cù Lao Ré - Lý Sơn. Chứng tích chủ quyền Biển Đông - Hoàng Sa thưở tiền nhân còn hiện hữu trong những ngự bút chiếu lệnh của các Hoàng đế Gia Long, Minh Mạng, Tự Đức giao công việc trấn biển cho Suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật, Cai đội Phạm Văn Nguyên, Phạm Quang Ảnh…
 
Không phải tận đến khi Chính phủ Việt Nam quyết định thành lập huyện Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng vào ngày 11/12/1982 thì người dân nơi đây mới có một tình cảm đặc biệt thiêng liêng đối với quần đảo Hoàng Sa. Trong quá khứ, Hoàng Sa đã gắn bó máu thịt với thành phố bên bờ sóng như một duyên phận của lịch sử. Tiếp thời các chúa, các đời vua triều Nguyễn, thời Tourane nhượng địa (tên gọi 62 năm Đà Nẵng thuộc Pháp), sau Hòa ước Patenôtre 1884, với tư cách đại diện cho nhà nước An Nam về đối ngoại, Cộng hòa Pháp tiếp tục khẳng định, quản lý và bảo vệ chủ quyền của nước ta tại quần đảo Hoàng Sa. Trong thời kỳ này, với tư cách là đô thị cảng biển gần với Hoàng Sa nhất, Đà Nẵng đã có nhiều đóng góp trong quá trình xác lập và thực thi chủ quyền của Việt Nam với quần đảo này, dù thời kỳ đó, Hoàng Sa vẫn trực thuộc địa giới tỉnh Quảng Ngãi và sau đó là Thừa Thiên với tên gọi Đại lý hành chính Hoàng Sa mà cách của người Pháp ghi trên bản đồ là Délégation des Paracels…
 
Pháp thất thủ tại Việt Nam nhưng đất nước vẫn tạm chia cắt, ngày 14/10/1950, Chính phủ Pháp bàn giao cho Chính phủ Quốc gia Việt Nam quyền quản lý Hoàng Sa. Ngày 20/10/1951, sau Hội nghị Francisco, Thủ hiến Trung Phần Phan Văn Giáo đã ký tư văn mật số 1403-VP/PC/M gửi Thủ tướng Chính phủ Quốc gia Việt Nam đề nghị sát nhập đảo Hoàng Sa và Tây Sa vào Thị xã Đà Nẵng. Tất nhiên, đến tận ngày 21/10/1969, giải pháp kéo Hoàng Sa vào đất liền chính thức được thực thi bằng một nghị định của chế độ cũ. Cũng chính văn bản này đã sát nhập Hoàng Sa (xã Định Hải) vào xã Hòa Long, thuộc quận Hòa Vang, Đà Nẵng. Suốt thời kỳ Việt Nam Cộng hòa, Việt Nam đã xác lập chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa bằng các tổ chức hành chính, dân sự và quân sự cho đến những ngày đầu tháng 1 năm 1974, trận hải chiến không cân sức giữa hải quân chế độ cũ với lực lượng quân đội hùng hậu Trung Quốc, Hoàng Sa thất thủ…       
                 
Sau ngày nước nhà thống nhất, ngày 11/12/1982, Chính phủ Việt Nam chính thức quyết định thành lập huyện Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Tiếp đó, Nghị định số 07/1997/NĐ-CP do Thủ tướng Võ Văn Kiệt ký ban hành ngày 23-1-1997 về việc công nhận Đà Nẵng là thành phố trực thuộc Trung ương thì Hoàng Sa là một huyện thuộc thành phố này. Đến ngày 25/4/2009, thành phố Đà Nẵng tổ chức Lễ công bố quyết định bổ nhiệm vị Chủ tịch đầu tiên của UBND huyện Hoàng Sa, ông Đặng Công Ngữ. Suốt nhiệm kỳ, Chủ tịch Ngữ cùng với cán bộ, nhân dân Đà Nẵng đã cống hiến hết mình vì trọng trách, vì sự ký thác của lịch sử, vì một tình yêu thiêng liêng với phần máu thịt của Tổ quốc chưa yên giữa trùng khơi…  
 
Ký ức Hoàng Sa
 
Qua các thời kỳ, lịch sử đã chọn Đà Nẵng để trao gửi Hoàng Sa - phần lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc giữa Biển Đông, cách đô thị cảng biển khoảng 135 hải lý. Chính vì vậy, không ở đâu lại tập trung nhiều “nhân chứng sống” về Hoàng Sa như ở thành phố này. Đó là những con người với những công việc cụ thể trong những tháng ngày họ sống và làm việc ngay trên quần đảo thân thương, trước năm 1974. Đối với họ, tình yêu Hoàng Sa không chỉ là tình yêu đối với một phần đất đai máu thịt của Việt Nam mà còn là những ký ức, những xúc cảm không thể mờ phai trong cuộc đời chính họ.
 
Những nhân vật mà tôi muốn kể là những người hiện đang sống tại thành phố Đà Nẵng: Đó là ông Trần Hữu Cát, sinh năm 1921, nhân viên khí tượng làm việc tại Trung tâm khí tượng Hoàng Sa từ năm 1940 đến 1945. Đó là ông Nguyễn Văn Cúc, sinh năm 1952, nhân viên khí tượng làm việc tại Hoàng Sa ra vào ba lần, lần thứ ba vào tháng 12/1973. Trong cuộc hải chiến năm 1974, ông Cúc bị Trung Quốc bắt đưa về giam tại đảo Hải Nam, sau một tháng giam cầm, được trao trả cho Chữ thập đỏ quốc tế tại Hồng Kông. Đó là ông Võ Như Dân, sinh năm 1937, nhân viên khí tượng tại Hoàng Sa theo chế độ luân phiên ba tháng một lần từ năm 1956 đến 1969. Đó là ông Trần Huynh, sinh năm 1933, nhân viên khí tượng tại Hoàng Sa theo chế độ luân phiên ba tháng một lần từ năm 1964 đến 1969. Còn rất nhiều, rất nhiều người nữa. Họ là những nhân chứng sinh động về một thời Hoàng Sa vẫn vẹn nguyên trong lòng Tổ quốc…   
 
Với những con người đó, Hoàng Sa chưa bao giờ cách xa. Vùng biển đảo thiêng liêng vẫn hiện hữu trong không gian ký ức về những tháng ngày tuổi trẻ đầy ý nghĩa của họ. Ông Võ Như Dân tả lại: “Hòn đảo nơi tôi làm việc có bốn cái lô cốt, một cái miếu Bà xây hướng về Đà Nẵng, một ngôi đền, trong đảo có bốn cái nhà ở, một nhà nguyện, nhà bếp, giếng nước. Bên khí tượng có năm người, bên lính hơn hai mươi người…”. Ông Nguyễn Văn Cúc hồi tưởng: “Tôi được điều đi Hoàng Sa để khảo sát, sửa chữa và xây thêm bể ngầm chứa nước mưa, lấy nước ngọt phục vụ cho cả quần đảo. Tôi ra Hoàng Sa ba lần, lần đầu là đầu năm 1973. Lúc tàu gần đến đảo, tôi thấy lâng lâng khó tả vì sắp đặt chân lên vùng đất linh thiêng. Ở trên đảo một ngày, tôi cùng năm người nữa đi tham quan đảo chim, đây là cảnh tượng làm tôi thích thú và ngạc nhiên nhất khi ở Hoàng Sa. Trên đảo có vô số chim và con vích đẻ trứng…”. Ông Nguyễn Văn Dữ, một trong những binh sĩ Hải quân Việt Nam Cộng hòa tham gia công vụ ở Hoàng Sa, nhớ lại: “Ấn tượng đầu tiên về Hoàng Sa trong tôi là bãi cát trải dài như mặt thảm khổng lồ và sạch đến vô cùng. Từ Hoàng Sa, phóng mắt ra bốn phía là một vùng biển xanh mênh mông như ngọc. Khi tôi đứng nhìn về hướng tây, thấp thoáng có những hòn đảo khác…”. Ông Nguyễn Văn Đức, người được giao nhiệm vụ Đảo trưởng Hoàng Sa, tàu cập đảo ngày 14/10/1969, bồi hồi khi nhắc về ký ức: “Mổ heo cúng đảo xong, tôi đi quan sát một vòng quanh đảo. Trên đảo không khí rất ấm áp và dễ chịu với những bãi cát mịn dọc bờ biển trắng phau. Ngay tại bờ biển, có một nghĩa địa chôn những người đã mất khi làm nhiệm vụ trên đảo. Kế nghĩa địa là miếu Bà, trong miếu thờ Phật Quan Âm. Trung tâm đảo có một tòa nhà chính và kế bên là nhà khí tượng. Tòa nhà chính do Pháp xây dựng lúc nào trên đảo thời Pháp thuộc chúng tôi không biết…”.               
 
Tâm nguyện chung của những con người ấy là mong một ngày được trở lại Hoàng Sa, nơi họ từng có những tháng ngày tuổi trẻ với ký ức tuyệt vời.
 
* *
 
Giữa năm 2014, bảy mươi lăm ngày đêm Hoàng Sa dậy sóng. Hơn hai tháng trời, ngoại bang mang dàn khoan đặt hạ trái phép lên vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam. Dàn khoan ấy như mũi tên cắm lên trái tim biển. Bảy mươi lăm ngày đêm ấy, cùng với đồng bào cả nước, cùng với nhân loại yêu chuộng hòa bình, người Đà Nẵng không ngủ. Họ đã góp sức cùng cả nước đấu tranh. Đấu tranh bằng chính những công việc thường ngày. Bằng chính cuộc mưu sinh mà hằng trăm năm trước cha ông từng rẽ sóng dẫn đường cho con cháu. Dù đã có lúc tàu cá của ngư dân Đà Nẵng bị đâm chìm và tính mạng của người mưu sinh trên biển liên tục bị ngoại bang đe dọa, nhưng những con tàu mỗi sáng mai phấp phới lá cờ đỏ sao vàng vẫn hướng về Hoàng Sa. Những ngư dân mang trong mình tình yêu vô bờ bến với biển, đảo Tổ quốc và trọng trách lịch sử. Người dân Đà Nẵng thấu hiểu Hoàng Sa là một phần quê hương của họ. Và cứ thế, mỗi bình minh ló dạng trên ngư trường Hoàng Sa, những lá cờ nền đỏ sao vàng vẫn tung bay kiêu hãnh giữa muôn trùng sóng gió…
 
Ông Đặng Công Ngữ, cựu Giám đốc Sở Nội vụ kiêm Chủ tịch UBND huyện đảo Hoàng Sa thuộc thành phố Đà Nẵng, trước khi rời nhiệm sở nghỉ hưu vẫn đau đáu nỗi niềm gửi đến những người kế nhiệm: “Ông cha ta đã giao, lịch sử đã giao, thì chúng ta phải tiếp tục nối bước để đòi cho được chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa”. Lời ông Ngữ cũng là tâm nguyện chung của người dân Đà Nẵng và hàng chục triệu người Việt đối với một phần lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc chưa yên giữa muôn trùng sóng gió Biển Đông.
   
UÔNG THÁI BIỂU

 

,
.