Chặng đường 95 năm báo chí cách mạng Việt Nam

Cập nhật lúc 09:14, Thứ Năm, 18/06/2020 (GMT+7)
(LĐ online) - Trải qua 95 năm kể từ ngày báo Thanh niên ra số báo đầu tiên (21/6/1925), dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, báo chí cách mạng Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh, khẳng định được vai trò, vị trí quan trọng và có nhiều đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta.
 
“Thanh Niên
“Thanh Niên" - tờ báo cách mạng đầu tiên của Việt Nam
 
Trước cách mạng tháng Tám 1945, báo chí cách mạng có các tở báo: Búa liềm; Lao động; Tạp chí Công hội đỏ và Báo Đỏ - cơ quan ngôn luận của các tổ chức cách mạng tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam (1929); Tạp chí Đỏ, tạp chí đầu tiên của Đảng (05/8/1930); báo Đấu tranh(15/8/1930); báo Cờ vô sản và Tạp chí Cộng sản (1931); tạp chí Bôn sê vích - cơ quan lý luận của Ban lãnh đạo ở nước ngoài của Đảng (tháng 3/1935); Dân chúng - cơ quan ngôn luận của Trung ương Đảng (1936 - 1939); Báo Việt Nam độc lập (01/8/1941); Cứu quốc (01/1942); Cờ giải phóng (10/1942). Kể từ khi báo Thanh niên ra đời đến tháng 8/1945, tổng cộng có hơn 270 tờ báo và tạp chí. Hoạt động báo chí thời kỳ 1930 - 1945 là phục vụ công tác xây dựng Đảng, tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin và đường lối, chủ trương của Đảng; kiên quyết chống đế quốc, phong kiến, chống chủ nghĩa cải lương của giai cấp tư sản và chủ nghĩa dân tộc tư sản của Việt Nam quốc dân Đảng; cổ vũ, động viên truyền thống anh hùng và chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, chuẩn bị điều kiện, đón thời cơ tiến hành thắng lợi cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945. 
 
Trong những năm đầu sau cách mạng tháng Tám 1945, báo chí cách mạng có sự phát triển nhanh chóng, bên cạnh những tờ báo ra đời trước tháng 8/1945 tiếp tục phát triển và trở thành nòng cốt như báo Cứu quốc, Sự thật, Độc lập, Lao động; còn có nhiều cơ quan báo chí ra đời như: Đài Tiếng nói Việt Nam (7/9/1945), Thông tấn xã Việt Nam (15/9/1945) và các tờ báo của kỳ bộ, Xứ ủy, báo của cấp tỉnh, thành phố. Báo chí thời gian này có nội dung sinh động, thể loại đa dạng, phong phú; góp phần quan trọng trong việc tuyên truyền, phổ biến đường lối, chính sách của Đảng và tích cực phục vụ nhiệm vụ bảo vệ chính quyền non trẻ. Cuối năm 1945, Đảng chuyển vào bí mật, báo Cờ giải phóng ngừng xuất bản; báo Sự Thật ra đời với danh nghĩa cơ quan của Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương.
 
Thởi kỳ 9 năm kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954), hàng loạt cơ quan báo chí chuyển lên chiến khu. Tuy điều kiện hoạt động vô cùng khó khăn nhưng các tờ báo đã nhanh chóng hòa nhập vào đời sống; phục vụ kịp thời cuộc kháng chiến - kiến quốc; mỗi nhà báo là một chiến sĩ; mỗi dòng tin báo chí có sức mạnh to lớn trong việc động viên, củng cố niềm tin, cổ vũ đồng bào, chiến sĩ, đặc biệt là nhân dân vùng địch hậu. Báo chí Trung ương cũng như địa phương ngoài nhiệm vụ trực tiếp tham gia phục vụ chiến đấu tại các chiến trường, còn tập trung tuyên truyền, đăng tải các văn kiện của Đảng, các bài nói và viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng… Trong thời kỳ này, báo Nhân dân, báo Quân đội nhân dân, báo Văn nghệ… ra đời, trong đó sự ra đời của báo Nhân dân đã đánh dấu cột mốc mới cho sự phát triển của dòng báo chí cách mạng. Bên cạnh hệ thống báo Đảng, còn có các tờ báo khác có tư tưởng yêu nước, tiến bộ cùng tồn tại và có nhiều đóng góp cho sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc. Ngày 02/6/1950, Hội Nhà báo Việt Nam được thành lập đã đoàn kết rộng rãi các nhà báo trong nước và tháng 7/1950 gia nhập Tổ chức Quốc tế các nhà báo (OIJ). 
 
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Nhà máy in Tiến bộ, ngày 13/5/1959
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Nhà máy in Tiến bộ, ngày 13/5/1959
 
Thời kỳ cả nước đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà (1954 - 1975). Trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, hoạt động báo chí tập trung đấu tranh chống kẻ thù phá hoại Hiệp định Giơ ne vơ; chống đàn áp, trả thù những người kháng chiến cũ; đòi thực hiện hiệp thương tổng tuyển cử, thống nhất đất nước… Để tạo điều kiện, hành lang pháp lý cho hoạt động báo chí, ngày 20/5/1957, Hồ Chủ tịch đã ban bố Luật số 100SL/002, được coi là luật báo chí đầu tiên của nước ta. Luật đã khẳng định: “Báo chí dưới chế độ ta, bất kỳ là của một cơ quan chính quyền, đảng phái chính trị, đoàn thể nhân dân hoặc của tư nhân cũng đều là công cụ đấu tranh của nhân dân, phải phục vụ quyền lợi của Tổ quốc, của nhân dân, bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân, ủng hộ chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Ở miền Bắc, báo chí vừa phản ánh sinh động hiện thực cuộc sống, vừa đề xuất nhiều vấn đề quan trọng trong chủ trương, đường lối phát triển kinh tế, nâng cao năng xuất lao động, ra sức xây dựng cuộc sống mới, góp phần định hướng về nhận thức, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trong giai đoạn cách mạng mới. Ở miền Nam, các tờ báo tập trung phản ánh tinh thần chiến đấu anh dũng của quân và dân miền Nam, cổ vũ, động viên tinh thần yêu nước; đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc của kẻ thù và vạch trần tội ác của chúng…Trong giai đoạn cả nước có chiến tranh (1965 - 1975), báo chí đã trở thành lực lượng tuyên truyền, cổ động, tạo ra sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, thống nhất ý chí tư tưởng và hành động, hướng tới mục tiêu đấu tranh chống quân xâm lược Mỹ và bè lũ tay sai. Để đáp ứng yêu cầu phát triển của công tác thông tin, tuyên truyền, ngày 7/9/1970, Đài Truyền hình Việt Nam ra đời. Hơn 20 năm trường kỳ kháng chống Mỹ cứu nước, báo chí đã có sự đóng góp xứng đáng vào thắng lợi vẻ vang của dân tộc, mà đỉnh cao là đại thắng mùa Xuân năm 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất nước nhà, cả nước đi lên xây dựng CNXH. 
 
Thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN (1975 - nay). Sau năm 1975, hệ thống báo chí được thống nhất trong cả nước, số lượng và chất lượng phát triển khá nhanh; mạng lưới thông tấn, báo chí, phát thanh, truyền hình được phân bố và phát hành rộng khắp. Báo chí đã ra sức tuyên truyền về tình cảm thống nhất đất nước, Nam - Bắc sum họp một nhà; hoà giải, hoà hợp dân tộc; cổ vũ, động viên nhiệm vụ hàn gắn vết thương sau chiến tranh, xây dựng kinh tế mới, xây dựng CNXH. Khi đất nước phải bước vào hai cuộc chiến tranh biên giới để bảo vệ Tổ quốc, báo chí lại tiếp tục xung trận, cổ vũ mạnh mẽ cuộc chiến đấu vì độc lập dân tộc, giữ vững toàn vẹn lãnh thổ của đất nước và tình nghĩa quốc tế, cứu nhân dân Căm Pu Chia thoát khỏi hoạ diệt chủng của Pôn Pốt - Iêng Xary, làm cho bạn bè thế giới hiểu được cuộc chiến tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Vào những năm 80 của thế kỷ XX, hoạt động của báo chí gặp rất nhiều khó khăn về cơ chế hoạt động, cơ sở vật chất, trang thiết bị, kinh phí…, dẫn đến những hạn chế, yếu kém. Trong bối cảnh đó, nhiều tờ báo đã chủ động tìm ra những hướng đi, những cách làm mới, nhằm đáp ứng được phần nào nhu cầu của bạn đọc.
 
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986) mở ra thời kỳ đổi mới đất nước, hoạt động báo chí được đổi mới về tư duy, tổ chức, cơ chế hoạt động, phát huy đầy đủ chức năng là công cụ của Đảng, là cầu nối giữa Đảng với nhân dân. Tháng 01/1990, Quốc hội thông qua và chính thức công bố Luật Báo chí mới, tạo điều kiện về hành lang pháp lý để báo chí phát huy đầy đủ chức năng, nhiệm vụ. Hoạt động báo chí ra sức tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; khẳng định công cuộc đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; tích cực phát hiện và cổ vũ những nhân tố mới, đồng thời tham gia đấu tranh chống tiêu cực, những quan điểm sai trái, thù địch… Trong gần 35 năm đổi mới, báo chí việt Nam đã có sự phát triển nhanh chóng cả về số lượng, chất lượng và hình thức thể hiện; công tác chỉ đạo, quản lý có bước đổi mới; loại hình báo chí đa dạng, bao gồm: Báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử, mạng xã hội. Đội ngũ nhà báo ngày càng đông đảo, có bước trưởng thành về chính trị, tư tưởng và nghiệp vụ... Tuy nhiên, so với yêu cầu, nhiệm vụ, hệ thống báo chí vẫn còn những hạn chế, bất cập, khuyết điểm như: Cơ cấu, quy mô chưa hợp lý; khuynh hướng xa rời tôn chỉ, mục đích,chạy theo yếu tố thương mại, coi nhẹ chức năng tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng; thông tin không chuẩn xác chưa được khắc phục hiệu quả; năng lực cán bộ của nhiều cơ quan chỉ đạo, quản lý, chủ quản và cơ quan báo chí chưa đáp ứng yêu cầu; đội ngũ làm báo còn những bất cập, có một bộ phận không nhỏ xa rời “Quy ước đạo đức nghề nghiệp”; hoạt động kinh tế của nhiều cơ quan báo chí khó khăn… Trước tình hình đó, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã đề ra nhiệm vụ quy hoạch, sắp xếp lại hệ thống báo chí đáp ứng yêu cầu phát triển, bảo đảm thiết thực, hiệu quả.
 
Thời gian tới, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, mau lẹ, khó lường; tình hình trong nước tuy có nhiều thuận lợi, cơ hội, nhưng vẫn còn tiềm ẩn những yếu tố có thể gây bất ổn; đặc biệt là sự bùng nổ của thông tin và thông tin đa chiều; cùng với đó là sự chống phá ngày càng ác liệt, tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch, những kẻ phản động, bất mạn, cơ hội… Trước bối cảnh đó, báo chí Việt Nam cần phải: (I) Kiên định mục tiêu lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam; thực sự là phương tiện thông tin, công cụ tuyên truyền, vũ khí tư tưởng quan trọng của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp, là diễn đàn của nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, hoạt động trong khuôn khổ pháp luật. (II) Quy hoạch, sắp xếp hệ thống báo chí phải gắn với đổi mới mô hình, nâng cao hiệu lưc, hiệu quả lãnh đạo, quản lý; khắc phục tình trạng chồng chéo, dàn trải đầu tư, buông lỏng quản lý, xa rời tôn chỉ, mục đích… (III) Đề cao hơn nữa vai trò, trách nhiệm lãnh đạo, quản lý báo chí của các cấp uỷ đảng, chính quyền, nhất là của cơ quan chủ quản, người đứng đầu cơ quan chủ quản và cơ quan báo chí. (IV) Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, phóng viên, biên tập viên, kỹ thuật viên có đủ phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu phát triển báo chí trong tình hình mới. 
 
Càng tự hào về chặng đường 95 năm vẻ vang của báo chí cách mạng Việt Nam, càng nhắc nhở những người làm báo cần phải ra sức học tập đạo đức, phong cách làm báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh; thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện về bản lĩnh, phẩm chất đạo đức, phong cách; không ngừng học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, xứng đáng là người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng - văn hóa của Đảng.
  
VĂN NHÂN
,