Đâu rồi biển xưa?

Đời sống - Ngày đăng : 14:03, 30/07/2020

BT- “Cậu nói con nghe nè, bữa nay đi 20 hải lý không có cá, 50 hải lý cũng chưa chắc”, một trưởng vạn nói với  tôi vẻ buồn buồn, khi trưởng vạn khác bày tỏ nỗi bức xúc về nạn giã cào bay, dùng xung điện bắt sò, ốc... gây ra nhiều hệ lụy. 

Nhớ biển xưa

Vượt gần 100 km theo tuyến đường ven biển, tôi đến thị trấn Phan Rí Cửa, nơi nhiều người bao đời sống nương nhờ vào biển cả để gặp một trưởng vạn. Ông là Lâm Văn Thiết (75 tuổi) - Trưởng ban Vạn Tả Tân ở thị trấn Phan Rí Cửa, huyện Tuy Phong, người dân quen gọi ông với tên thân mật chú Năm. Vạn Tả Tân là 1 trong 3 vạn thờ cúng thần linh biển, 2 vạn kia là Nam Phú và Nam Tân Thanh, mỗi vạn có ngày lễ cầu ngư riêng với ngư dân làm nghề đánh bắt khác nhau.

Để gặp trưởng vạn Tả Tân, tôi nhờ đến sự chỉ dẫn của Chủ tịch Hội Nông dân Phan Rí Cửa Chương Thanh Chung khá trẻ. Trải qua nhiều con phố nhỏ đông người mới thấy sự chỉ dẫn là có lý. “À! Chờ cậu Thiết một chút nha”, người đàn ông với tầm vóc không cao lớn, hoạt bát ngó qua cửa nhà nói lớn cho chúng tôi nghe. Ông xưng cậu, tôi cũng xưng theo, sau khi giới thiệu tên mình. Nắng chiều Phan Rí Cửa đỏng đảnh, hai con người một già, một trẻ ngồi trên ghế đá trước cửa ngôi nhà cấp 4 cũ kỹ đậm mùi biển cả từ bao thế hệ vươn khơi. Tôi tự thấy mình như người trên trời rớt xuống, hỏi cậu rất nhiều chuyện. “Cậu nói con nghe, cậu bắt đầu ra khơi lúc 20 tuổi và giải nghệ năm 60 tuổi. Thời cậu hầu hết ngư dân đánh bắt bằng ngư lưới cụ đơn giản không hiện đại như bây giờ. Hải sản ngày đó đầy biển có cảm giác đánh bắt không bao giờ cạn. Nói đâu xa vào những năm 2007 đi vài hải lý trở về bán được vài trăm triệu đồng là chuyện bình thường”, cậu hồi tưởng một thời dồi dào sản vật của biển cả. Nghe cậu kể tôi có thể mường tượng ra điều đó bởi tôi đâu phải người xa lạ đến vùng đất Bình Thuận đầy tiềm năng này. Chỉ những người không sống ở vùng đất này mới không biết. Tôi nhớ rất rõ, vào những năm thập niên 90 đến 2000 con sò vặn đổ đống đầy chợ chẳng ai mua, chỉ 1.000 – 2.000 đồng mua được 1 bao cả chục người ăn không hết, nhiều loài cá gọi là “hàng dạt” làm thức ăn cho heo.  

                
   Trưởng vạn Lâm Văn Thiết trăn trở nghề    vươn khơi.

Đánh bắt “tận diệt”

Ngày nay nghề biển nhẹ nhàng hơn bởi máy móc thay thế con người, nhưng biển không còn dồi dào hải sản như ngày xưa. Do một phần của việc đánh bắt hôm nay không nghĩ đến ngày mai, theo kiểu tận diệt của một bộ phận ngư dân bất chấp lệnh cấm. “Bữa nay khó khăn, ra khơi 40 - 50 hải lý đánh bắt chưa chắc có cá, chứ đừng nói ở gần bờ. Cậu nói thật, các con cậu đang đi biển và những anh em trong vạn nói, biển giả ngày càng cạn dần hải sản”, cậu Thiết nói với vẻ buồn đầy chất chứa. Chị Nga con cậu nói xen vào: “Mấy năm trước tầm này ngoài cảng đầy cá, nhưng năm nay không có”.

Cách đây vài năm, Chi cục Thủy sản Bình Thuận, ước tính mỗi năm, sản lượng đánh bắt hải sản ngư trường Bình Thuận giảm từ 10.000 - 12.000 tấn/năm. Nghề biển đang ngày càng giống như mua xổ số, ra khơi may mắn gặp trúng đàn cá, còn không thì tìm cá như dò kim đáy biển. Hộ ngư dân nào đánh bắt giỏi lắm thì dư giả chút ít, còn lại đủ chi phí thuê nhân công, dầu, thực phẩm cho mỗi chuyến đi. Nhọc nhằn mưu sinh, phó mặc đời mình cho biển cả, nhưng giờ chỉ đủ ăn, thậm chí thiếu trước, hụt sau thử hỏi ai không muốn chuyển đổi nghề. “Ở Phan Rí Cửa có người lên ý định bán ghe, nhưng chưa bán được vì ngư trường kiệt quệ. Bán ghe bây giờ cũng khó chứ không phải dễ, biển không còn cá ai dám mua”, cậu Thiết không nhìn tôi nói mà nhìn vào khoảng không xa xăm buột miệng.

Trong các nghề, với tôi nghề biển không chỉ đơn thuần đánh bắt nâng cao đời sống cho ngư dân hay giữ gìn nghề truyền thống của cha ông mà còn mang một trọng trách lớn là bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Sự hiện diện của ngư dân trên biển giống như con “dấu đỏ” đóng vững chắc trên trang giấy, khẳng định chủ quyền  biển, đảo của Việt Nam. Tôi nghĩ nếu ngư dân bỏ nghề thì ai cùng cán bộ chiến sĩ, người dân ở đảo xa bảo vệ biển, đảo, tôi hỏi cậu: “Với tư cách là một trưởng vạn, cậu có khuyên ngư dân bám biển?”. Cậu Thiết trả lời ngay và không đắn đo suy nghĩ: “Khuyên sao được con!, nếu khuyên cậu biết chắc họ sẽ bảo, biển giả kiểu này ôm ghe có mà chết đói, ông biết chỗ nào có cá chỉ cho tôi đi. Mình cũng bó tay nói gì được”. Giọng cậu bỗng chùng xuống, vừa lắc đầu lia lịa vừa nói: “Khó lắm!. Cậu biết ở Phan Rí Cửa, phần lớn ngư dân đánh bắt gần bờ, có người cũng muốn đầu tư ghe lớn để đánh bắt xa bờ nhưng lại lo lỗ, đổ nợ”. Chưa bao giờ tôi có cảm giác nghề vươn khơi, bám biển ảm đạm như thế...  

Cứu nghề biển

Để cứu nghề biển cần có những giải pháp quyết liệt, trước hết loại bỏ nạn đánh bắt vô tội vạ trên biển. Trong cuộc trò chuyện giữa tôi và cậu, tôi đã không ít lần nghe cậu nhắc đến nạn giã cào bay, dùng xung kích điện bắt sò, ốc... Như để chứng minh những gì đã nói, cậu dẫn tôi đến gặp các trưởng vạn khác. Trưởng vạn Nam Phú - Phạm Chín đã bị tàu giã cào bay ở Phước Hải, Vũng Tàu phá hoại những cội chà của ông vẫn đang bức xúc. Ông cũng như nhiều ngư dân vùng biển Phan Rí Cửa thường xuyên chứng kiến cảnh giã cào bay càn quét cách bờ khoảng 6 hải lý. Nhiều cội chà tạo bóng mát cho cá trú ngụ để đánh bắt và những ngư lưới cụ khác của ngư dân đã bị chúng phá hủy ngay trước mặt nhưng chẳng thể làm gì.

Gặp các trưởng vạn, tôi mới hiểu rõ được “mặt thật” của nghề biển bởi họ là trung tâm tin tức về nghề. “Làm gì thì làm phải dẹp được tệ nạn giã cào bay, dùng xung điện đánh bắt thì biển mới sinh sôi nảy nở, ngư dân mới bám biển”, trưởng vạn Nam Phú buồn rầu nói, trưởng vạn khác gật đầu thừa nhận.

Giã cào bay, một kiểu đánh bắt “dã man” nhất, không chỉ phá hủy tài sản của chính người trong nghề mà tận diệt các sinh vật biển. Vấn nạn không còn xa lạ với ngành chức năng, nhưng không hiểu sao vẫn lén lút hoạt động. Đây là “hung thần” đáy biển làm cạn kiệt tài nguyên hải sản, triệt đường sinh nhai trên biển của nhiều ngư dân. Ngoài giã cào bay thì việc dùng xung điện lặn bắt sò cũng nguy hại không kém, dùng roi chích điện sục đáy biển thì còn loài nhuyễn thể 2 mảnh vỏ nào sống sót. Với kiểu đánh bắt “tận diệt” này thì còn hải sản nào sống sót!

Cậu Thiết bảo: “Đi thuê một lao động biển bây giờ rất khó. Thuê được rồi giữ chân họ càng khó hơn vì đi đánh bắt với chủ ghe mà không có hải sản là họ bỏ đi hoặc tìm đến ghe khác”. Nghề biển cần kiên trì, chủ ghe không đánh bắt được lúc này thì đánh bắt được lúc khác, phải có hợp đồng ràng buộc họ hoặc trả lương cố định mới có thể níu chân lao động. Nếu cứ trả tiền công cho họ theo cách ăn chia sau mỗi chuyến ra khơi thì không bao giờ giải quyết được thực trạng của nghề.

Chia tay các trưởng vạn, tôi vẫn nghe văng vẳng câu nói của trưởng vạn Tả Tân cứ xoáy trong tâm can tôi. “Muốn ngư dân bám biển thì phải giải quyết tệ nạn đánh bắt vô tội vạ trên biển. Biển dồi dào nguồn lợi hải sản mới thu hút ngư dân, thu hút lao động biển, vươn khơi bảo vệ chủ quyền biển, đảo”. Dẫu biết, những vấn nạn này ngành chức năng đã nỗ lực đẩy đuổi, xử lý nhiều trường hợp nhưng vì cái lợi trước mắt một bộ phận ngư dân vẫn lén lút hoạt động. Đầu năm 2019, Trạm Quản lý và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Tuy Phong đã xử lý 5 trường hợp sử dụng kích điện, mỗi trường hợp phạt từ 5 – 10 triệu đồng. Có lẽ khoản phạt này còn quá nhỏ so với lợi nhuận họ thu được, nên cần phải nâng mức phạt cao hơn và tăng cường tuần tra, kiểm soát quyết liệt hơn trên vùng biển. Nếu làm được điều này ngư dân sẽ phấn khởi, vươn khơi bám biển, không chỉ bảo vệ chủ quyền biển, đảo mà còn không vi phạm khuyến nghị của châu Âu về khai thác hải sản bất hợp pháp.  

Phóng sự:Ninh Chinh