Văn kiện

Dự thảo báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Ðảng bộ tỉnh trình Ðại hội đại biểu Ðảng bộ tỉnh Lâm Ðồng lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030

KT 02/10/2025 14:15

Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy khối đại đoàn kết toàn dân, bản sắc văn hóa đa dạng, tiềm năng, lợi thế và đổi mới sáng tạo; tăng cường quốc phòng - an ninh; kiến thiết tỉnh Lâm Đồng phát triển nhanh, bền vững, trở thành cực tăng trưởng năng động trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

LTS: Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 là văn kiện quan trọng, định hướng cho sự phát triển của tỉnh trong giai đoạn mới. Báo và Phát thanh, Truyền hình Lâm Đồng trân trọng giới thiệu toàn văn dự thảo để bạn đọc cùng nghiên cứu, đóng góp ý kiến, góp phần hoàn thiện Báo cáo chính trị, thể hiện ý chí, khát vọng và niềm tin phát triển của toàn tỉnh.

khoi-hoa-da-quy.jpg
Một góc phường Xuân Hương - Đà Lạt. Ảnh tư liệu

Nhiệm kỳ 2020 - 2025, tình hình thế giới, khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn diễn ra gay gắt, xung đột vũ trang, tranh chấp lãnh thổ ở một số nơi kéo dài; biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, đặc biệt là hậu quả nặng nề bởi đại dịch Covid-19 làm đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu.

Đất nước ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng, uy tín, thế và lực, tinh thần đoàn kết ngày càng được nâng lên; nhiều chủ trương mới, chưa có tiền lệ được ban hành và tổ chức thực hiện khẩn trương, quyết liệt, kịp thời, sát thực tế, đã đưa nền kinh tế vượt qua khó khăn, thử thách, đạt nhiều thành tựu quan trọng, khá toàn diện. Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tiếp tục được triển khai mạnh mẽ, cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy, sáp nhập đơn vị hành chính được thực hiện quyết liệt và được Nhân dân, toàn hệ thống chính trị đồng tình, ủng hộ.

Lâm Đồng được thành lập trên cơ sở hợp nhất 3 tỉnh: Lâm Đồng - Bình Thuận - Đắk Nông. Với sự quan tâm, giúp đỡ của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị và sự ủng hộ, chia sẻ của các tầng lớp Nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp của 3 tỉnh trước đây, các cơ hội, thế mạnh của địa phương được tập trung khai thác, phát huy hiệu quả, góp phần thúc đẩy tình hình kinh tế - xã hội, đạt được nhiều kết quả quan trọng. Tuy vậy, trước những tác động tiêu cực của tình hình thế giới, trong nước, nhất là thiên tai, đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng lớn đến đời sống của Nhân dân và hoạt động sản xuất, kinh doanh của người dân, doanh nghiệp; các thế lực thù địch không ngừng chống phá Đảng và Nhà nước ta; một bộ phận cán bộ, đảng viên vẫn còn biểu hiện đùn đẩy công việc, né tránh trách nhiệm, thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu, suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống.

Song, với ý chí, khát vọng phát triển, quyết tâm chính trị cao, toàn Đảng bộ, lực lượng vũ trang và Nhân dân 3 tỉnh đã đoàn kết, nỗ lực, tập trung khắc phục khó khăn, triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ 3 tỉnh nhiệm kỳ 2020 - 2025 và Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

Với việc mở ra không gian phát triển mới, Lâm Đồng là địa phương có diện tích lớn nhất và quy mô nền kinh tế thuộc nhóm đầu cả nước, hội tụ nhiều tiềm năng, thế mạnh, điều kiện thuận lợi để phát triển. Tự hào và tin tưởng dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân tỉnh Lâm Đồng, vùng đất giàu truyền thống cách mạng, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc đang nỗ lực phát triển, đẩy mạnh đổi mới toàn diện, nỗ lực vươn mình trong không gian phát triển mới, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, bảo đảm phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới, trở thành nơi đáng sống, xanh, thân thiện, nghĩa tình.

Với phương châm: “Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển”, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030, có ý nghĩa quan trọng, là dấu mốc đặc biệt trên chặng đường phát triển mới của tỉnh Lâm Đồng, là nguồn cổ vũ, động viên để hệ thống chính trị và Nhân dân các dân tộc tỉnh nhà tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, sâu rộng công cuộc đổi mới, hiện thực hóa mục tiêu phát triển Lâm Đồng đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045.

nha-hang-thuy-ta(1).jpg
Thủy Tạ, hồ Xuân Hương. Ảnh tư liệu

PHẦN THỨ NHẤT ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI NHIỆM KỲ 2020 - 2025

I- Kết quả đạt được trong nhiệm kỳ 2020 - 2025

1. Kết quả thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu tại Nghị quyết Đại hội nhiệm kỳ 2020 - 2025

Trong nhiệm kỳ 2020 - 2025, nhiều chỉ tiêu chủ yếu tại Nghị quyết Đại hội tỉnh đạt và vượt kế hoạch, cụ thể kết quả thực hiện (của từng tỉnh trước sáp nhập):

- Tỉnh Lâm Đồng: Có 11/17 chỉ tiêu đạt kế hoạch(1); có 6/17 chỉ tiêu không đạt kế hoạch(2).

- Tỉnh Bình Thuận: Có 17/22 chỉ tiêu vượt và đạt so kế hoạch(3); có 5/22 chỉ tiêu không đạt kế hoạch(4).

- Tỉnh Đắk Nông: Có 8/11 chỉ tiêu vượt và đạt so với kế hoạch(5); có 3/11 chỉ tiêu không đạt so với kế hoạch(6).

2. Phát triển kinh tế, quản lý, bảo vệ môi trường có chuyển biến tích cực

Kinh tế tiếp tục phát triển; quy mô, chất lượng tăng trưởng được nâng lên theo hướng bền vững; tốc độ tăng trưởng kinh tế GRDP đạt khá(7). Cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng hiện đại; trong đó, ngành nông, lâm, thủy sản đóng vai trò quan trọng.

Sản xuất nông nghiệp tiếp tục thích ứng với thị trường; tăng cường liên kết, ứng dụng công nghệ cao, tăng năng suất các sản phẩm lợi thế của địa phương(8); thương hiệu nông, thủy, hải sản của tỉnh được xây dựng, dần khẳng định vị trí tại các thị trường trong và ngoài nước. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số được nâng lên. Kết quả xây dựng nông thôn mới đạt kết quả tốt(9).

Sản xuất công nghiệp tăng trưởng khá(10); trong đó công nghiệp năng lượng là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng. Công nghiệp chế biến, sản xuất bô-xít - alumin - nhôm dần khẳng định vị thế; công nghiệp chế biến sâu titan được đầu tư; công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy, hải sản tiếp tục phát triển. Kết cấu hạ tầng các khu, cụm công nghiệp dần hoàn thiện; bước đầu thu hút được một số nhà đầu tư lớn(11).

Thương mại, dịch vụ tăng trưởng khá sau đại dịch Covid-19; du lịch tiếp tục được khẳng định là ngành kinh tế động lực, mũi nhọn, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội. Thương hiệu, sản phẩm “Đà Lạt - Kết tinh kỳ diệu từ đất lành”, “Festival Hoa Đà Lạt”, “Bình Thuận - Biển xanh, cát trắng, nắng vàng”, “Du lịch Bình Thuận - Trải nghiệm bất tận”, chuỗi hoạt động của Năm Du lịch quốc gia “Bình Thuận - Hội tụ xanh”, các hoạt động giao lưu văn hóa, nghệ thuật, biểu diễn cồng chiêng, du lịch gắn với Công viên Địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông, du lịch thể thao mạo hiểm, nghỉ dưỡng…; lượng khách, doanh thu hoạt động du lịch tăng mạnh; thu hút được một số nhà đầu tư chiến lược, có năng lực, kinh nghiệm. Lưu thông hàng hóa thông suốt, triển khai kịp thời, hiệu quả các chương trình bình ổn hàng hóa, đáp ứng nhu cầu người dân… Một số sản phẩm xuất khẩu chủ lực tăng trưởng tốt. Các chính sách tài chính, tín dụng, ngân hàng được tích cực triển khai. Chuyển đổi số trên lĩnh vực thương mại được ứng dụng rộng rãi.

Triển khai kịp thời các Nghị quyết mang tính chiến lược, đột phá của Bộ Chính trị(12). Các thành phần kinh tế tiếp tục phát triển, nhất là kinh tế tư nhân. Kinh tế tập thể duy trì ổn định, có chiều hướng phát triển với nhiều mô hình mới, hiệu quả; thu hút ngày càng nhiều dự án FDI; tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao chất lượng công tác xúc tiến đầu tư, thu hút đầu tư; cải thiện chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh; quan tâm đối thoại, hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Các hoạt động, hợp tác liên kết phát triển với các tỉnh, thành vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Nam Trung Bộ đạt được kết quả tương đối tích cực, nhất là trong lĩnh vực du lịch, nông nghiệp.

Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được cải thiện. Việc thu hút vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt kết quả tích cực. Huy động các nguồn lực đẩy mạnh đầu tư công làm động lực dẫn dắt đầu tư tư nhân; triển khai các dự án trọng điểm, quan trọng như: đưa vào vận hành tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Đông (đoạn Vĩnh Hảo - Phan Thiết, Phan Thiết - Dầu Giây), khởi công cao tốc Bảo Lộc - Liên Khương, hoàn tất các thủ tục, chuẩn bị khởi công cao tốc đoạn Tân Phú - Bảo Lộc, cao tốc Bắc - Nam phía Tây (đoạn Gia Nghĩa - Chơn Thành),… Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt làm cơ sở triển khai các quy hoạch có liên quan, thu hút đầu tư, phát triển toàn diện, bền vững. Công tác quy hoạch đô thị, nông thôn được quan tâm thực hiện. Hệ thống đô thị phát triển nhanh về số lượng, quy mô(13); hạ tầng đô thị, nông thôn được đẩy mạnh đầu tư, nâng cấp, nhất là kết cấu hạ tầng giao thông, cấp thoát nước, xử lý nước thải, ngầm hóa hạ tầng thông tin viễn thông, điện lực.

Công tác quản lý nhà nước về đất đai, rừng, tài nguyên, môi trường, nước, khoáng sản được tăng cường, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Khai thác hiệu quả nguồn lực đất đai, chủ động định hướng quỹ đất cho phát triển các ngành, lĩnh vực; triển khai các giải pháp quản lý đất thu hồi từ các nông, lâm trường. Công tác quy hoạch, quản lý, sử dụng tài nguyên biển, hải đảo, vùng bờ biển được thực hiện tốt. Công tác quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng được tập trung chỉ đạo; phát triển rừng, giao khoán, phong trào trồng rừng, cây phân tán được phát động, thực hiện đồng bộ. Thực hiện đạt kết quả các nhiệm vụ liên quan đến phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm, quản lý và cải thiện chất lượng môi trường, chủ động ứng phó biến đổi khí hậu và giảm phát thải khí nhà kính.

3. Phát triển các giá trị văn hóa, xã hội và con người đạt được kết quả tích cực

Công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc được quan tâm, hỗ trợ; ưu tiên phát triển công nghiệp văn hóa và hoàn thiện thị trường các sản phẩm và dịch vụ văn hóa, xây dựng các chương trình biểu diễn, giao lưu văn hóa nghệ thuật kết hợp triển lãm ảnh giới thiệu danh lam thắng cảnh, quảng bá hình ảnh, con người và thương hiệu địa phương, gắn du lịch địa phương với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, nâng cao thu nhập, tạo việc làm cho lao động nông thôn, đồng bào các dân tộc thiểu số trong tỉnh. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được Nhân dân tích cực tham gia, thi đua sôi nổi; đời sống văn hóa, tinh thần của Nhân dân ngày càng nâng lên, các giá trị nhân văn cao đẹp được nhân rộng. Xây dựng văn hóa trong Đảng, trong hệ thống chính trị, các chuẩn mực đạo đức công vụ có chuyển biến tích cực.

Hệ thống thiết chế văn hóa mới ngày càng hoàn thiện, phát huy hiệu quả, phù hợp với đặc điểm vùng, miền gắn với nhu cầu và nguyện vọng của người dân; phát huy vai trò, tính tích cực của văn hóa cổ truyền,… Hoạt động thể dục, thể thao có bước phát triển; cơ sở phục vụ luyện tập thể dục, thể thao tiếp tục được đầu tư, cải thiện; thể thao thành tích cao khởi sắc, phong trào thể dục, thể thao quần chúng được mở rộng với nhiều hình thức đa dạng, phong phú. Công tác bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa, gắn với Công viên Địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông đạt những kết quả quan trọng.

Lĩnh vực giáo dục và đào tạo tiếp tục được đầu tư, triển khai đồng bộ; chất lượng giáo dục các cấp học tiếp tục được nâng lên; tỷ lệ trường công lập đạt chuẩn quốc gia nâng lên; ngành giáo dục - đào tạo và các địa phương đã xây dựng các mục tiêu, tiêu chí cao để phấn đấu, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông luôn ở vị trí cao của toàn quốc, số lượng học sinh giỏi quốc gia, học sinh đoạt giải tại các cuộc thi khoa học, kỹ thuật quy mô khu vực và quốc tế tăng lên; công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực được chú trọng; giáo dục đạo đức, nhân cách, lòng tự hào dân tộc, trách nhiệm xã hội được quan tâm. Công tác xã hội hóa giáo dục tiếp tục được đẩy mạnh và đạt kết quả tích cực.

Khoa học, công nghệ được đẩy mạnh, bám sát mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và cơ bản giải quyết các vấn đề cấp thiết của ngành, địa phương(14). Hạ tầng viễn thông, mạng lưới bưu chính được đầu tư, mở rộng, nâng cao chất lượng phục vụ, góp phần thực hiện có hiệu quả trong việc cung cấp dịch vụ công, phục vụ công tác cải cách hành chính, chuyển đổi số, đáp ứng nhu cầu của Nhân dân. Quan tâm đổi mới sáng tạo, ứng dụng chuyển giao khoa học, công nghệ và phát triển khoa học, công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

An sinh xã hội được bảo đảm đầy đủ; thực hiện kịp thời chế độ, chính sách xã hội, chính sách dân tộc, tôn giáo, người có công, chính sách tiền lương, thu nhập. Hệ thống y tế được quan tâm đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị; đội ngũ y, bác sĩ và cán bộ ngành y tăng cả về số lượng và chất lượng, triển khai nhiều kỹ thuật cao, kỹ thuật đặc biệt trong chẩn đoán và điều trị(15); xã hội hóa y tế được đẩy mạnh; thu hút một số dự án đầu tư xây dựng bệnh viện đa khoa chuyên sâu, chất lượng cao; quan tâm chỉ đạo triển khai hồ sơ sức khỏe điện tử; đào tạo, bồi dưỡng nhân lực ngành y tế được thực hiện thường xuyên; tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế tăng hàng năm; năng lực phòng, chống dịch, bệnh được nâng cao, sức khỏe Nhân dân cơ bản được bảo đảm.

Các mục tiêu phát triển toàn diện con người được chăm lo, cải thiện; quan tâm xây dựng, phát triển giá trị gia đình kết hợp giá trị truyền thống với giá trị thời đại, tinh thần yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo. Chương trình, dự án, đề án đầu tư phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số được quan tâm thực hiện; qua đó, dân sinh, kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số tiếp tục có sự chuyển biến tích cực. Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững tiếp tục được triển khai, thực hiện hiệu quả; tỷ lệ nghèo đa chiều giảm, đạt và vượt so với mục tiêu nghị quyết đề ra.

4. Quốc phòng, an ninh được bảo đảm; hoạt động đối ngoại và hợp tác quốc tế được mở rộng

Quán triệt sâu sắc, triển khai thực hiện hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng, an ninh. Hoàn thành sắp xếp tổ chức cơ quan quân sự địa phương bảo đảm “tinh, gọn, mạnh” đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp xây dựng, củng cố và tăng cường tiềm lực khu vực phòng thủ; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và xây dựng thế trận lòng dân vững chắc. Thực hiện tốt công tác biên phòng, bảo đảm an ninh biên giới, phân giới cắm mốc, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ; năng lực phòng thủ đặc khu Phú Quý và tuyến ven bờ biển được nâng lên. Quan tâm xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên đủ về số lượng, chất lượng ngày càng cao. Hoàn thành 100% chỉ tiêu tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ; giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh các đối tượng.

Chủ động nắm tình hình, kịp thời phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; không để hình thành tổ chức chính trị đối lập trên địa bàn. Đấu tranh ngăn chặn, vô hiệu hóa hoạt động của tổ chức phản động, đối tượng chống đối chính trị, và các đối tượng cực đoan trong tôn giáo, dân tộc, khiếu kiện phức tạp. Tập trung giải quyết hiệu quả vụ việc phức tạp, nhất là trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đấu tranh với hoạt động sinh hoạt tôn giáo trái pháp luật, ngăn chặn tập trung đông người, gây mất an ninh trật tự… Tăng cường mở các đợt ra quân tấn công trấn áp tội phạm, triển khai biện pháp phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn các loại tội phạm về trật tự xã hội, nhất là tội phạm hình sự, ma túy, tín dụng đen... Tăng cường công tác phòng, chống cháy nổ. Chỉ đạo triển khai nhiều giải pháp bảo đảm an toàn giao thông, giảm tai nạn giao thông hàng năm trên cả 3 tiêu chí. Đẩy mạnh xây dựng lực lượng công an trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới theo Nghị quyết số 12-NQ/TW, ngày 16/3/2022 của Bộ Chính trị.

Hoạt động đối ngoại và hợp tác quốc tế ngày càng mở rộng trên tất cả các lĩnh vực, tạo môi trường thuận lợi để hội nhập sâu, rộng, huy động nguồn lực phát triển và nâng cao vị thế của tỉnh. Thực hiện tốt chủ trương của Đảng, Nhà nước về việc tiếp tục thúc đẩy mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị với nước bạn Lào và Vương quốc Campuchia thông qua việc ký kết hợp tác với các tỉnh Champasak, Bolykhamsay (Lào) và Mondulkiri (Campuchia). Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện việc đa phương hóa các mối quan hệ với nhiều đối tác, địa phương các nước để thu hút các nguồn vốn đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội, trong đó tập trung việc thiết lập quan hệ đối ngoại và tăng cường tiếp xúc thương mại, đầu tư với các tập đoàn kinh tế - tài chính, khai khoáng quốc tế. Các sự kiện văn hóa, thể thao, du lịch của 03 tỉnh được nhiều tổ chức quốc tế, đại diện ngoại giao của các nước tại Việt Nam quan tâm tham gia, ủng hộ; động viên doanh nhân, trí thức kiều bào về đầu tư và làm việc tại tỉnh. Việc bảo tồn, phát triển Công viên Địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông được quan tâm.

5. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị đạt nhiều kết quả quan trọng

Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII được quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc; kịp thời phát hiện, xử lý, nghiêm minh tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, qua đó đã có tác dụng cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe, ngăn chặn, góp phần làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, tạo sự chuyển biến tích cực, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng.

Công tác xây dựng Đảng về chính trị tiếp tục được chú trọng thực hiện thường xuyên, giữ vững mục tiêu, đường lối, nguyên tắc của Đảng; công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức cho cán bộ, đảng viên được các cấp ủy quan tâm, có nhiều giải pháp đổi mới, gắn lý luận với thực tiễn. Tuyệt đại đa số cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, không dao động trước âm mưu, thủ đoạn, luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch.

Công tác xây dựng Đảng về tư tưởng được thực hiện với nhiều hình thức phù hợp với từng đối tượng, như tổ chức các hội thảo, hội nghị, giáo dục lịch sử Đảng bộ, lịch sử truyền thống địa phương, tổ chức các đợt sinh hoạt chuyên đề học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, các tác phẩm, bài viết của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng Bí thư Tô Lâm,…. Kịp thời thông tin tuyên truyền, quán triệt, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho cán bộ, đảng viên, Nhân dân. Công tác chỉ đạo, định hướng và quản lý các hoạt động báo chí, mạng xã hội được tăng cường; công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các luận điệu sai trái, thù địch được chú trọng và ngày càng nâng cao hiệu quả. Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận có nhiều chuyển biến, bảo đảm thực chất, hiệu quả.

Công tác xây dựng Đảng về đạo đức, nhất là đạo đức cách mạng được thực hiện thường xuyên; xây dựng và thực hiện chuẩn mực đạo đức cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới. Công tác đấu tranh, nhận diện những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống,“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên có chuyển biến tích cực. Việc thực hiện Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị; các Kế hoạch của Ban Thường vụ Tỉnh ủy tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được chú trọng, triển khai học tập, quán triệt kịp thời, nghiêm túc, gắn với các quy định của Đảng về đạo đức cách mạng trong giai đoạn mới, về trách nhiệm nêu gương đối với cán bộ, đảng viên.

Tiếp tục lãnh đạo thực hiện Nghị quyết số 18, 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị của tỉnh tiếp tục được sắp xếp, kiện toàn tinh gọn, gắn với Đề án vị trí việc làm và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, bảo đảm hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đặc biệt tập trung thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 11 (khóa XIII) và các Kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đã hoàn thành việc sáp nhập, hợp nhất, các sở, ngành, cơ quan tham mưu, giúp việc, đơn vị sự nghiệp của Đảng; sắp xếp, cơ cấu lại tổ chức bên trong các sở, ban, ngành; kết thúc hoạt động Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh, Khối Doanh nghiệp tỉnh, thành lập Đảng bộ các cơ quan Đảng tỉnh, Đảng bộ Ủy ban nhân dân tỉnh; sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, không tổ chức đơn vị hành chính cấp huyện và tổ chức lại đơn vị hành chính cấp xã. Đến nay, 124 xã, phường, đặc khu thuộc tỉnh Lâm Đồng đã thành lập và đi vào hoạt động từ 1/7/2025; việc triển khai chính quyền địa phương 2 cấp tại tỉnh Lâm Đồng đã và đang được thực hiện quyết liệt, đúng định hướng, bước đầu đạt kết quả tích cực, bộ máy chính quyền địa phương 2 cấp hoạt động ngày càng đi vào nền nếp, ổn định.

Công tác xây dựng tổ chức đảng, được các cấp ủy quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghiêm túc theo tinh thần Nghị quyết số 21-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương; đội ngũ cấp ủy viên từ tỉnh đến cơ sở thường xuyên được kiện toàn bảo đảm về số lượng và chất lượng; công tác quản lý, tạo nguồn, kết nạp đảng viên được các cấp ủy bám sát chỉ tiêu nghị quyết, kế hoạch để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện(16); công tác đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức đảng và đảng viên được thực hiện chặt chẽ, đúng thực chất(17); công tác rà soát, sàng lọc đảng viên ra khỏi Đảng được thực hiện nghiêm túc(18), đúng quy định.

Phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng theo tinh thần Nghị quyết số 28-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương được Tỉnh ủy và các cấp ủy đảng quan tâm, nhất là việc đổi mới, nâng cao chất lượng cụ thể hóa việc ban hành các nghị quyết, chỉ thị của Đảng; đổi mới công tác cán bộ; đổi mới hình thức tổ chức học tập, quán triệt, triển khai thực hiện và việc sơ kết, tổng kết ở các cấp. Mở rộng dân chủ đi đôi với tăng cường lãnh đạo giữ vững kỷ luật, kỷ cương và nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Phát huy vai trò tiền phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên. Đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao năng suất, chất lượng hiệu quả công việc,...

Công tác cán bộ được thực hiện nghiêm theo quy định; bảo đảm nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ. Việc phân công, phân cấp, phân quyền trong công tác tổ chức, cán bộ gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được đẩy mạnh. Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng cán bộ thực hiện nghiêm túc, cơ bản phát huy được năng lực, sở trường của cán bộ; chủ trương khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung bước đầu phát huy hiệu quả; kịp thời miễn nhiệm, cho từ chức, thay thế cán bộ năng lực hạn chế, uy tín thấp, kỷ luật; công tác bảo vệ chính trị nội bộ được các cấp ủy, tổ chức đảng chú trọng.

Công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật của Đảng được thực hiện toàn diện, đồng bộ, chủ động, tích cực hơn, với quyết tâm cao, hành động quyết liệt, chất lượng, hiệu quả chuyển biến rõ rệt; tăng cường công tác kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm, đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác giám sát chuyên đề; xử lý kịp thời, nghiêm minh tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, qua đó có tác dụng giáo dục, răn đe, cảnh báo, ngăn ngừa, kịp thời khắc phục các khuyết điểm, vi phạm, góp phần quan trọng vào việc giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, xây dựng, chỉnh đốn đảng.

Công tác nội chính, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được chú trọng; đã kịp thời phát hiện, phòng, chống và xử lý đối với hành vi sai phạm về tham nhũng, tiêu cực; công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án, xử lý các vụ việc tham nhũng, tiêu cực được chỉ đạo kịp thời, không có vùng cấm, không có ngoại lệ(19); nhiều vụ việc, vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp được xử lý nghiêm minh, qua đó có tác dụng cảnh báo, răn đe, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, tạo niềm tin trong Nhân dân. Công tác tiếp công dân tiếp tục được quan tâm, giải quyết khiếu nại, tố cáo đạt kết quả tích cực; trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong việc tiếp dân, đối thoại trực tiếp với Nhân dân và xử lý những phản ánh, kiến nghị của Nhân dân được nâng lên.

Công tác dân vận, dân tộc, tôn giáo, thực hiện Luật Dân chủ ở cơ sở có chuyển biến tích cực; phương thức tiến hành công tác dân vận của các cấp ủy có đổi mới, bám sát cơ sở, nhu cầu, nguyện vọng của các tầng lớp Nhân dân. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên các cấp chủ động, tích cực phát huy vai trò, trách nhiệm, tổ chức thực hiện tốt các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước, xây dựng “Nông thôn mới”, “Đô thị văn minh”, “Dân vận khéo” gắn với mô hình khu dân cư tiêu biểu, khu dân cư kiểu mẫu. Phát huy ngày càng tốt vai trò giám sát, phản biện xã hội và góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền các cấp. Khối đại đoàn kết toàn dân không ngừng được củng cố và phát huy, niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị tiếp tục được nâng lên.

Công tác cải cách hành chính được các cấp, ngành quan tâm, tập trung đẩy mạnh, triển khai đồng bộ, toàn diện trên các lĩnh vực; công tác cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính có nhiều chuyển biến tích cực. Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chú trọng rèn luyện về tư tưởng chính trị, đạo đức công vụ; nêu gương thực hành dân chủ, tuân thủ pháp luật, nêu cao tinh thần trách nhiệm, tác phong, lề lối làm việc trong thực thi công vụ, trong tiếp xúc và làm việc với Nhân dân.

6. Các nhiệm vụ trọng tâm và các khâu đột phá trong Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2020 - 2025 đạt kết quả tích cực, toàn diện

Cấp ủy, chính quyền, hệ thống chính trị toàn tỉnh đã quyết tâm, nỗ lực cao trong tổ chức, triển khai thực hiện bằng những chương trình, nghị quyết, kế hoạch cụ thể trên các mặt kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, xây dựng Đảng, hệ thống chính trị; qua đó, việc thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm và các khâu đột phá tại Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh đạt được một số kết quả tích cực. Các thành phần kinh tế tiếp tục phát triển, nhất là kinh tế tư nhân; phát triển công nghiệp năng lượng, chế biến chế tạo; ngành dịch vụ, du lịch phát triển theo hướng chất lượng cao, là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh; phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo chuỗi giá trị; tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quan hệ sản xuất, tạo điều kiện cho sản xuất phát triển, đặc biệt là mở rộng các phương thức hợp tác, liên kết sâu rộng trong sản xuất nông nghiệp. Huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ; đẩy mạnh huy động vốn đầu tư phát triển toàn xã hội. Công tác lập, triển khai Quy hoạch tỉnh và các quy hoạch trên địa bàn được quan tâm. Đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số, sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân lực công nghệ thông tin. Thực hiện kịp thời, đầy đủ các chính sách an sinh, phúc lợi xã hội.

7. Các dự án, công trình trọng điểm của tỉnh

Các dự án, công trình trọng điểm của tỉnh được tập trung nguồn lực để triển khai thực hiện, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội. Đến nay, có 2 dự án(20) hoàn thành đưa vào sử dụng, có 17 dự án đã hoàn thành thủ tục và đang triển khai các hoạt động đầu tư xây dựng(21); có 12 dự án đang thực hiện thủ tục chuẩn bị đầu tư, chưa triển khai xây dựng(22); có 03 dự án phải rà soát đưa ra khỏi danh mục do thiếu quy hoạch, tiềm lực triển khai, tính khả thi chưa cao(23).

II- Hạn chế, yếu kém trong nhiệm kỳ 2020 - 2025

- Quy mô nền kinh tế của tỉnh phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế; chất lượng tăng trưởng thiếu tính bền vững; một số chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ của tỉnh chưa đạt kế hoạch; kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm so với yêu cầu; chưa thu hút được nhiều nhà đầu tư chiến lược; công tác giải ngân vốn đầu tư công còn hạn chế; việc đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội chưa đáp ứng yêu cầu, nhất là hạ tầng giao thông, một số dự án trọng điểm còn chậm tiến độ; một số quy hoạch vẫn còn vướng mắc, bất cập; công tác quản lý đất đai, xây dựng, khoáng sản còn xảy ra vi phạm; công tác quản lý, bảo vệ rừng chưa quyết liệt, nhất là ở cơ sở.

- Lĩnh vực công nghiệp phát triển chưa có sự đột phá, chưa tạo giá trị gia tăng cao, nhất là chế biến nông, lâm sản, khai thác, chế biến sâu titan. Đầu tư kết cấu hạ tầng và thu hút đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp còn khó khăn, vướng mắc, tỷ lệ lấp đầy các khu, cụm công nghiệp còn thấp; tiến độ hình thành Trung tâm điện lực Sơn Mỹ còn chậm…

- Công tác quản lý một số hoạt động văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng chưa hiệu quả. Việc đầu tư xây dựng, sửa chữa một số cơ sở giáo dục còn chậm. Chất lượng y tế, chăm sóc sức khỏe Nhân dân, tỷ lệ giường bệnh/vạn dân còn thấp so với cả nước; công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm, dược phẩm còn bất cập, có mặt chưa đáp ứng yêu cầu. Cơ sở vật chất giáo dục công lập được quan tâm, tăng cường đầu tư nhưng vẫn còn thiếu, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục; chất lượng giáo dục đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, thiếu sự đồng đều giữa các khu vực, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, hỗ trợ khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo chưa đi vào chiều sâu, nguồn lực đầu tư còn dàn trải, thiếu đồng bộ, hiệu quả thấp.

- Cơ sở hạ tầng, các thiết chế về văn hóa, thể thao, du lịch, thương mại dịch vụ chưa được đầu tư đồng bộ, toàn diện; lượng khách du lịch quốc tế chiếm tỷ trọng thấp trong tổng cơ cấu khách du lịch; thiếu các dự án du lịch có quy mô lớn, loại hình mới, hấp dẫn, cao cấp; chất lượng các sản phẩm, dịch vụ du lịch chưa đạt như kỳ vọng.

- Đời sống một bộ phận Nhân dân còn khó khăn, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới; việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội, các mục tiêu giảm nghèo còn khó khăn, thách thức; tình trạng dân di cư ngoài kế hoạch gây khó khăn cho địa phương.

- An ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội còn tiềm ẩn nguy cơ; trật tự, an toàn giao thông có thời điểm chưa bảo đảm tốt; an ninh, trật tự ở địa bàn nông thôn có nơi còn phức tạp.

- Kết quả tổ chức thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng chưa có nhiều sáng tạo. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng, chất lượng sinh hoạt chi bộ chưa đồng đều; việc kết nạp đảng viên ở một số nơi còn theo số lượng. Việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng, quy chế làm việc, phối hợp có lúc, có nơi chưa nghiêm; việc phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” gắn với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và thực hiện các quy định về trách nhiệm nêu gương, về đạo đức cách mạng có nơi, có lúc chưa quyết liệt, rõ nét.

- Công tác quản lý, điều hành của một số cơ quan hành chính, địa phương còn có mặt hạn chế, thiếu chủ động trong việc dự báo tình hình, tham mưu, đề xuất kịp thời để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp; một bộ phận cán bộ chậm đổi mới tư duy, làm việc cầm chừng, né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm; kỷ luật, kỷ cương hành chính của một số cán bộ, công chức, viên chức chưa cao; cải cách thủ tục hành chính còn chậm, chưa quyết liệt trong chuyển đổi số... Chất lượng nguồn nhân lực chưa đạt yêu cầu thực tiễn, thiếu chuyên gia giỏi, có trình độ cao trong một số ngành, nghề mũi nhọn của tỉnh như công nghiệp chế biến, du lịch, kinh tế biển.

- Vai trò, trách nhiệm một số cấp ủy, tổ chức đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện công tác kiểm tra, giám sát chưa được phát huy; công tác nắm tình hình, phát hiện dấu hiệu vi phạm của một số cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp chưa kịp thời, công tác kiểm tra, giám sát ở cấp cơ sở chuyển biến chậm, hiệu quả chưa cao; việc thi hành kỷ luật có nơi chưa nghiêm, chưa đủ sức răn đe, cảnh tỉnh. Nhiều cán bộ chủ chốt của tỉnh bị xử lý kỷ luật, có trường hợp bị xử lý hình sự ảnh hưởng đến uy tín của Đảng bộ, chính quyền địa phương.

- Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực ở một số cơ quan, đơn vị còn có mặt hạn chế, chưa thật sự chủ động. Việc tự kiểm tra, tự phát hiện và xử lý tham nhũng, tiêu cực trong nội bộ một số cơ quan, đơn vị hiệu quả thấp; kiểm soát tài sản, thu nhập chưa hiệu quả. Tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn xảy ra. Giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và thi hành các bản án, quyết định hành chính về đất đai có hiệu lực pháp luật có trường hợp còn chậm, kéo dài gây bức xúc cho người dân.

- Công tác dân vận, đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, hội quần chúng còn lúng túng, việc nắm bắt, giải quyết những vấn đề bức xúc, nổi cộm trong Nhân dân, hiệu quả chưa cao; việc phát huy vai trò người có uy tín, cốt cán, tranh thủ chức sắc tôn giáo tại một số địa phương, đơn vị còn hạn chế; công tác giám sát, phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, chính quyền ở một số nơi chưa phát huy hiệu quả.

- Thực hiện các khâu đột phá theo Nghị quyết Đại hội đề ra có mặt, có nội dung chuyển biến còn chậm, chưa đạt yêu cầu, còn thiếu tính đột phá mạnh mẽ, chưa tạo động lực phát triển như kỳ vọng.

* Những hạn chế, yếu kém trên có nhiều nguyên nhân: Bối cảnh tình hình quốc tế, trong nước còn nhiều khó khăn ngoài dự đoán (đại dịch Covid-19 ảnh hưởng nặng nề đến tăng trưởng kinh tế, đời sống xã hội năm 2021, 2022; các vướng mắc liên quan quy hoạch khoáng sản chậm tháo gỡ; thu hút đầu tư giảm sút; hạ tầng giao thông chưa đồng bộ…; biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, khó lường; giá cả nguyên, nhiên, vật liệu tăng; xung đột chính trị, quân sự diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới,…).

Tuy nhiên, nguyên nhân chủ quan vẫn là chủ yếu: (1) Năng lực nhận định, dự báo tình hình, những khó khăn, vướng mắc trong nhiệm kỳ chưa đáp ứng yêu cầu; (2) Tư duy, tầm nhìn chiến lược về phát triển và công tác tổ chức triển khai thực hiện còn hạn chế; (3) Công tác phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị chưa đồng bộ, nhịp nhàng, nhất là việc tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc liên quan đến thu hút đầu tư, đất đai, xây dựng, quy hoạch; (4) Một số cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, để xảy ra sai phạm phải xử lý kỷ luật, có trường hợp xử lý hình sự; một bộ phận cán bộ, đảng viên còn tư tưởng né tránh công việc, đùn đẩy trách nhiệm, chưa chủ động nâng cao trình độ chuyên môn, chậm đổi mới phong cách làm việc, nhất là ứng dụng công nghệ số; (5) Các chính sách đào tạo, bồi dưỡng, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao chưa hiệu quả; (6) Một số cấp ủy, chính quyền chưa quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ và công tác cải cách hành chính; (7) Việc xây dựng quy chế làm việc của cấp ủy một số nơi chưa sát với chức năng, nhiệm vụ, chậm rà soát điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp…; (8) Một số cấp ủy chưa chú ý đúng mức công tác kiểm tra, giám sát; kỷ cương, kỷ luật chưa nghiêm; chậm thay thế cán bộ yếu kém, không phát huy hiệu quả trong công việc.

III- Đánh giá chung và bài học kinh nghiệm

1. Đánh giá chung

Sau 05 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh, nhiệm kỳ 2020 - 2025, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; tuy còn một số hạn chế, khuyết điểm, song Đảng bộ, địa phương đã đạt được những kết quả quan trọng, khá toàn diện, tạo nền tảng vững chắc để phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới. Cả hệ thống chính trị đã có nhiều cố gắng, vượt qua những khó khăn thách thức, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, kinh tế tiếp tục tăng trưởng; quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm; vai trò lãnh đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng được phát huy; đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân được cải thiện và nâng lên; sức mạnh đại đoàn kết được tiếp tục tăng cường. Hoàn thành việc sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; không tổ chức cấp huyện, sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã, cấp tỉnh, xây dựng chính quyền địa phương 2 cấp gắn với tinh giản biên chế theo chỉ đạo của Trung ương và yêu cầu, điều kiện thực tế của địa phương. Đặc biệt, với việc thành lập tỉnh Lâm Đồng mới, không gian phát triển được mở rộng, gắn kết cao nguyên - trung du - duyên hải, cùng nhiều lợi thế, bản sắc văn hóa đa dạng, tạo ra sự đột phá về vị thế để tỉnh Lâm Đồng phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới.

2. Một số bài học kinh nghiệm

Một là, bám sát chủ trương, nghị quyết của Đảng, tuân thủ pháp luật của Nhà nước, vận dụng sáng tạo, hiệu quả, kịp thời cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, các nghị quyết của Trung ương, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2020 - 2025 và các chủ trương, nghị quyết của Đảng; tổ chức thực hiện quyết liệt, khẩn trương, có trọng tâm, trọng điểm, nhất là các chỉ tiêu chủ yếu, các đột phá, nhiệm vụ trọng tâm từ tỉnh đến cơ sở.

Hai là, chú trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, thường xuyên nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu bảo đảm nguyên tắc, quy trình, quy định của Đảng; thực hiện nghiêm Quy chế làm việc; phát huy dân chủ, giữ vững kỷ luật, kỷ cương; xây dựng, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng và hệ thống chính trị. Thường xuyên quan tâm đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị phù hợp với mô hình tổ chức bộ máy mới, phát huy vai trò lãnh đạo của cấp ủy.

Ba là, phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên nhất là người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị, địa phương trong thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp có phẩm chất, bản lĩnh chính trị, đạo đức, năng lực, uy tín. Kiên quyết, kiên trì, năng động, sáng tạo, đổi mới trong tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng phù hợp với điều kiện thực tiễn địa phương, cơ quan, đơn vị.

Bốn là, thường xuyên tăng cường mối liên hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, củng cố niềm tin của Nhân dân, tạo sự đồng thuận xã hội; quan tâm giải quyết những nguyện vọng chính đáng, hợp pháp của Nhân dân, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân; thực hiện hiệu quả dân chủ ở cơ sở, mở rộng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; thực hiện tốt công tác dân vận.

Năm là, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, thanh tra, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Nâng cao năng lực phân tích, đánh giá, dự báo, nắm chắc tình hình, kịp thời ứng phó, xử lý hiệu quả đơn, thư khiếu nại, tố cáo, những vấn đề phát sinh; quan tâm đúng mức công tác kiểm tra, giám sát; thường xuyên tự kiểm tra để kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những khuyết điểm, sai sót, không để khuyết điểm nhỏ kéo dài thành vi phạm lớn; xử lý kịp thời, nghiêm minh những vi phạm.

PHẦN THỨ HAI QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP NHIỆM KỲ 2025 - 2030

I- Bối cảnh, tình hình

Trong những năm tới, tình hình thế giới tiếp tục có những chuyển biến nhanh, phức tạp, khó lường, đan xen cả những thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức. Tuy nhiên, hòa bình và hợp tác phát triển vẫn là xu thế chính; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn; xung đột, tranh chấp lãnh thổ diễn ra ở nhiều khu vực, ngay cả trong khu vực ASEAN, phức tạp hơn, không loại trừ nguy cơ chiến tranh lan rộng. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo, trong đó có Biển Đông tiếp tục diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ xảy ra xung đột. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 tiếp tục phát triển mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực. Xu thế chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, chuyển đổi năng lượng ngày càng được đẩy mạnh.

Du lịch đang được Lâm Đồng xúc tiến đầu tư để khai thác tiềm năng, lợi thế có sẵn
Du lịch đang được Lâm Đồng xúc tiến đầu tư để khai thác tiềm năng, lợi thế có sẵn

Với những quyết sách chiến lược mang tính cách mạng đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày càng hoàn thiện, đời sống Nhân dân ngày càng được nâng cao; uy tín của Đảng được nâng lên; nhiều chủ trương mới của Đảng và chính sách của Nhà nước tiếp tục được triển khai thực hiện, đi vào cuộc sống, cùng khát vọng phát triển mạnh mẽ của cả hệ thống chính trị và sự ủng hộ, đồng thuận của Nhân dân, tạo động lực, nền tảng cho nhiệm kỳ phát triển bứt phá.

Tỉnh Lâm Đồng mới có diện tích trên 24.000 km², lớn nhất cả nước, dân số gần 3,9 triệu người, với vị trí địa chính trị quan trọng, mở rộng từ cao nguyên đến biển, đảo, tài nguyên thiên nhiên đa dạng, hội tụ đầy đủ tiềm năng, điều kiện thuận lợi về rừng, biển, khí hậu, tài nguyên, khoáng sản, có nền tảng và tiềm lực phát triển cả trên 3 trụ cột kinh tế (nông, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp - xây dựng và thương mại, dịch vụ), có hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội tương đối đồng bộ (cảng biển, cảng hàng không, các tuyến cao tốc, quốc lộ, trục giao thông huyết mạch, kết nối liên vùng và cả nước), các khu du lịch quốc gia, điểm du lịch nổi tiếng, lợi thế về trữ lượng bô-xít, titan, thương hiệu nông - hải sản gắn với các sản phẩm chủ lực, cùng truyền thống văn hóa đặc sắc và nhiều di sản văn hóa. Bên cạnh đó, cũng còn nhiều khó khăn, thách thức: Tỉnh có địa hình đa dạng nhưng giao thông kết nối một số địa phương trong tỉnh còn hạn chế; chất lượng tăng trưởng chưa bền vững; an ninh khu vực biên giới, an ninh dân tộc, tôn giáo còn tiềm ẩn yếu tố phức tạp; một số sản phẩm chủ lực địa phương còn hạn chế về sức cạnh tranh; nguồn nhân lực chất lượng cao của địa phương còn thiếu, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển; các vấn đề đô thị và thách thức về biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội; các thế lực thù địch, phản động đẩy mạnh thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đối với Việt Nam; các thách thức về an ninh mạng, an ninh xã hội, an ninh tôn giáo, dân tộc, hoạt động chống phá của các tổ chức, cá nhân phản động, nguy cơ tụ tập, biểu tình gây rối an ninh, trật tự, bạo loạn, khủng bố, hình thành tổ chức chính trị đối lập trong nước.

Những vấn đề nêu trên đòi hỏi toàn Đảng bộ, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị tỉnh nhà cần chung sức, đồng lòng, tranh thủ tối đa thời cơ, thuận lợi, nêu cao tinh thần trách nhiệm, tạo khí thế mới, tập trung khắc phục những khó khăn, vượt qua thách thức với quyết tâm chính trị cao, đổi mới tư duy, đột phá phát triển để thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu, mục tiêu, nhiệm vụ đề ra trong nhiệm kỳ 2025 - 2030.

II- Quan điểm chỉ đạo

- Kiên định, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; kiên định các nguyên tắc của Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

- Xây dựng tư duy và tầm nhìn chiến lược, dài hạn, tranh thủ thời cơ, thuận lợi, vượt qua mọi khó khăn, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, khát vọng phát triển để tổ chức thực hiện bài bản, thực chất, có hiệu quả các nghị quyết mang tính chiến lược, đột phá của Bộ Chính trị, phù hợp với tình hình thực tiễn địa phương trong giai đoạn mới, tạo nền tảng cho phát triển lực lượng sản xuất mới, hiện đại, đưa Lâm Đồng phát triển nhanh, toàn diện, bền vững, vươn lên cùng đất nước.

- Thay đổi tư duy, tầm nhìn chiến lược phù hợp với không gian phát triển mới; khơi dậy khát vọng, tự hào, quyết tâm phát triển mạnh mẽ trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; huy động, khai thác và sử dụng hiệu quả tối đa mọi nguồn lực, kịp thời tháo gỡ các điểm nghẽn, nút thắt; đẩy mạnh cải cách hành chính. Xây dựng chính quyền số; phát triển y tế, giáo dục, bảo vệ môi trường và khuyến khích tinh thần đổi mới, sáng tạo, đột phá trong phát triển.

- Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh trong mọi tình huống; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và biên phòng toàn dân vững chắc; thực hiện tốt công tác đối ngoại theo chủ trương, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và yêu cầu ổn định, phát triển của địa phương, nhất là ở vùng biên giới, hải đảo.

- Không ngừng tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả gắn với cơ cấu, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, gương mẫu, ngang tầm nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới; nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng gắn với nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của chính quyền; thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, chính quyền với Nhân dân thông qua đổi mới hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, tăng cường sự đoàn kết, đồng thuận trong Nhân dân; siết chặt kỷ luật, kỷ cương của Đảng; tăng cường kiểm soát quyền lực, kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Gia Nghĩa là vùng đất có địa hình đa dạng xen kẽ giữa núi cao và các cao nguyên dốc thoải
Gia Nghĩa là vùng đất có địa hình đa dạng xen kẽ giữa núi cao và các cao nguyên dốc thoải

III- Mục tiêu

1. Mục tiêu phát triển

Xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh; lãnh đạo phát triển toàn diện, lấy ổn định làm nền tảng, lấy phát triển kinh tế - xã hội là nhiệm vụ trung tâm, lấy hạnh phúc và ấm no của Nhân dân là mục tiêu phấn đấu; đến năm 2030, tỉnh Lâm Đồng trở thành tỉnh phát triển khá, là một trong những cực tăng trưởng năng động của khu vực trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

2. Các chỉ tiêu chủ yếu nhiệm kỳ 2025 - 2030

- Về kinh tế: Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm (GRDP) bình quân cho giai đoạn 2025 - 2030 khoảng 10 - 10,5%; GRDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 6.700 - 7.500 USD; tốc độ tăng năng suất lao động xã hội đạt khoảng 6,5 - 7,5%/năm; tổng vốn đầu tư toàn xã hội chiếm 35 - 40% GRDP.

- Về xã hội: Chỉ số phát triển con người (HDI) phấn đấu đạt khoảng 0,75; tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh đạt khoảng 74 - 75 tuổi, trong đó thời gian sống khỏe mạnh đạt tối thiểu 68 năm; tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35 - 40%; tỷ lệ nghèo đa chiều duy trì mức giảm ít nhất từ 1 - 1,5%/năm (phấn đấu đến năm 2030, cơ bản không còn hộ nghèo); đạt 32 giường bệnh/10.000 dân, đạt tỷ lệ 11 bác sĩ/10.000 dân.

- Về môi trường: Tỷ lệ che phủ rừng đạt trên 46,2%; tỷ lệ các cơ sở sản xuất, kinh doanh đáp ứng yêu cầu về môi trường đạt khoảng 98%.

- Về công tác xây dựng Đảng: Hằng năm, có trên 90% tổ chức cơ sở đảng, đảng viên được đánh giá, xếp loại từ hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên. Tỷ lệ kết nạp đảng viên mới hằng năm trong giai đoạn 2025 - 2030 đạt từ 3 - 4% tổng số đảng viên.

IV- Nhiệm vụ trọng tâm

(1) Tổ chức thực hiện thực chất, hiệu quả các nghị quyết mang tính chiến lược, đột phá của Bộ Chính trị(24), phù hợp với tình hình thực tiễn địa phương, tạo nền tảng cho phát triển lực lượng sản xuất mới, hiện đại.

(2) Tập trung làm tốt công tác quy hoạch theo không gian phát triển mới; tháo gỡ các điểm nghẽn, nút thắt; huy động, khai thác và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển; xây dựng chính quyền số; nâng cao năng suất lao động; phát triển y tế - giáo dục; thực hiện tốt bảo vệ môi trường; phát huy tinh thần dám đổi mới, sáng tạo trong đột phá phát triển.

(3) Tăng cường xây dựng, củng cố tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên; sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả gắn với xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tinh gọn, có phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; đủ về số lượng, có chất lượng và cơ cấu phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ, đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; nâng cao năng lực, cầm quyền của Đảng gắn với nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của chính quyền; thực hiện tốt Luật Dân chủ ở cơ sở; thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, chính quyền với Nhân dân thông qua đổi mới hoạt động của Mặt trận Tổ quốc.

(4) Đẩy mạnh liên kết nội vùng, ngoại vùng với vùng Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, các trung tâm kinh tế lớn của cả nước và liên kết giữa các xã, phường, đặc khu trong tỉnh; xác định mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng theo hướng phát triển kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, kinh tế tư nhân; lấy phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, hạ tầng số làm động lực, tạo dư địa cho phát triển; phấn đấu là khu vực kinh tế động lực.

(5) Phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng các dân tộc, phát triển hài hòa giữa kinh tế với văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường; tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ, khôi phục, phát triển rừng; bám sát cơ sở, nắm tình hình, kịp thời củng cố khối đại đoàn kết toàn dân; nâng cao chất lượng, đời sống Nhân dân, người dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

(6) Bảo đảm quốc phòng, an ninh trong mọi tình huống; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc; thực hiện tốt công tác đối ngoại theo chủ trương, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, nhất là vùng biên giới, biển, đảo.

V- Đột phá phát triển và dự án trọng điểm

1. Đột phá phát triển

(1) Huy động mọi nguồn lực đầu tư xây dựng, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, ưu tiên đầu tư hạ tầng giao thông chiến lược, kết nối liên vùng gắn với xây dựng, phát triển đô thị mới, khu dân cư tập trung, các tổ hợp về du lịch, dịch vụ mang tầm khu vực và quốc tế; phát triển hạ tầng số, nhất là hạ tầng dữ liệu ngành, địa phương; phát triển mạnh mẽ khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo.

(2) Đẩy mạnh cải cách hành chính; tháo gỡ dứt điểm các điểm nghẽn, nút thắt, rào cản, nhất là về quy hoạch, bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư để khơi thông, giải phóng, phát huy nguồn lực, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách để thu hút tập đoàn kinh tế tư nhân có quy mô lớn, có năng lực và kinh nghiệm đầu tư vào tỉnh.

(3) Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, nhất là công tác nhận xét, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sắp xếp, bố trí, sử dụng cán bộ đúng người, đúng việc; trọng dụng người tài, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá phát triển, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

2. Dự án trọng điểm

2.1. Dự án đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước và đối tác công tư

(1) Các dự án trên địa bàn tỉnh phục vụ thực hiện dự án Đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam.

(2) Tuyến đường bộ cao tốc Dầu Giây - Liên Khương đoạn Tân Phú - Bảo Lộc, Bảo Lộc - Liên Khương (CT27); Cao tốc Nha Trang - Liên Khương, Cao tốc Gia Nghĩa - Phan Thiết.

(3) Tuyến đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Tây đoạn Gia Nghĩa - Chơn Thành.

(4) Cải tạo, nâng cấp quốc lộ 27, quốc lộ 28, quốc lộ 55, tuyến đường động lực Gia Nghĩa - Bảo Lâm.

(5) Trung tâm hành chính - chính trị mới của tỉnh Lâm Đồng.

(6) Một số dự án hồ thủy lợi lớn; đê, kè ứng phó biến đổi khí hậu.

(7) Các dự án trên địa bàn tỉnh phục vụ thực hiện dự án Đường ven biển quốc gia.

(8) Các dự án: Nhà máy điện BOT Sơn Mỹ I, Sơn Mỹ II; kho cảng LNG Sơn Mỹ.

2.2. Dự án thu hút đầu tư

(1) Các Tổ hợp nhà máy tuyển bô-xít và chế biến alumin, nhôm và các sản phẩm từ nhôm.

(2) Các dự án năng lượng tái tạo, nhất là điện gió ngoài khơi.

(3) Khu kinh tế ven biển phía Nam tỉnh, Khu công nghệ cao tỉnh.

(4) Trung tâm logistics, cảng biển, cảng cạn.

(5) Dự án Nâng cấp, mở rộng Cảng hàng không quốc tế Liên Khương; dự án Cảng hàng không Phan Thiết.

(6) Các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng, đầu tư thứ cấp tại các Khu công nghiệp Sơn Mỹ 1, Sơn Mỹ 2, Phú Bình, Nhân Cơ 2.

(7) Các khu đô thị, khu du lịch, thương mại có quy mô lớn.

VI- Các giải pháp chủ yếu

1. Đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng với khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo là động lực chính để phát triển nhanh, bền vững

1.1. Đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, thúc đẩy tăng trưởng xanh và phát triển bền vững

Đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế theo hướng xanh, bền vững, ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh; phát triển mạnh kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế chia sẻ; phát triển kinh tế theo không gian mở, gắn với các trục phát triển đô thị của tỉnh(25), bảo đảm sự kế thừa, phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế, nguồn lực sẵn có của tỉnh và các điều kiện thuận lợi, thời cơ, vận hội mới để tăng tốc phát triển.

Đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng dịch vụ và công nghiệp - xây dựng; trong đó, (i) phát triển nông nghiệp, nông thôn hiện đại, bền vững, có giá trị gia tăng cao; (ii) phát triển mạnh công nghiệp, với công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp năng lượng, công nghiệp công nghệ cao là động lực tăng trưởng chính của nền kinh tế; (iii) phát triển dịch vụ, du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh; (iv) phát triển bền vững kinh tế biển, kinh tế rừng.

1.1.1. Phát triển nông nghiệp, nông thôn hiện đại, bền vững

Thực hiện đồng bộ, có hiệu quả Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Cơ cấu lại ngành nông nghiệp bảo đảm thực chất, hiệu quả; khơi thông các điểm nghẽn, nút thắt để khai thác và phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế nông nghiệp của địa phương, thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu. Hỗ trợ, phát triển nông nghiệp hiện đại, các vùng sản xuất chuyên canh tập trung, ứng dụng công nghệ cao, thông minh, sinh thái. Nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của nông sản, tăng tỷ lệ xuất khẩu cho các sản phẩm chủ lực, sản phẩm OCOP; chuyển đổi mạnh mẽ từ các chuỗi cung ứng nông sản sang phát triển các chuỗi giá trị ngành hàng; hình thành nhiều chuỗi giá trị nông sản gắn với sàn giao dịch thương mại điện tử. Đẩy mạnh hợp tác công - tư, nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong chọn tạo, nhân giống cây trồng, vật nuôi mới, có hiệu quả kinh tế cao.

Chuyển đổi mạnh mẽ tư duy từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp, chuyển đổi sang phương thức sản xuất ứng dụng công nghệ cao, canh tác nông nghiệp sinh thái, hữu cơ, tuần hoàn, áp dụng các tiêu chuẩn sản xuất nông nghiệp (VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ,…); khuyến khích các thành phần kinh tế và doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Xây dựng và thực hiện danh mục sản phẩm nông nghiệp chủ lực mang thương hiệu tỉnh và từng địa phương, khu vực. Đẩy mạnh kết nối, phát triển thị trường tiêu thụ nông sản trong và ngoài nước, các hình thức hợp tác, liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ theo chuỗi giá trị, nhất là liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp có lợi thế của tỉnh, khai thác tối đa các kênh thương mại điện tử. Phấn đấu đến năm 2030, giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân đạt 250 triệu đồng/ha/năm (giá trị thu nhập bình quân trên 120 triệu đồng/ha/năm).

Phát triển chăn nuôi theo quy mô công nghiệp, khép kín, ứng dụng công nghệ cao, chủ động phòng, chống dịch bệnh, bảo đảm vệ sinh môi trường; chuyển dịch cơ cấu vật nuôi theo hướng an toàn sinh học, hữu cơ; kiên quyết di dời, ngừng hoạt động hoặc chuyển đổi ngành nghề các cơ sở chăn nuôi trong đô thị, khu vực không được phép chăn nuôi.

Đẩy mạnh hoạt động khai thác hải sản xa bờ, gắn với phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá; quyết liệt thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp chống khai thác thủy sản bất hợp pháp (IUU); nâng cao hiệu quả khai thác, nuôi trồng thủy sản, hải sản đặc sản theo hướng hàng hóa, gắn với chế biến gia tăng giá trị sản phẩm; phát triển hệ thống cảng cá theo quy hoạch.

Ứng dụng khoa học, công nghệ số trong bảo đảm an ninh nguồn nước, an toàn hồ đập; phòng, chống ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước. Đầu tư các công trình hồ thủy lợi lớn theo quy hoạch; sửa chữa, nâng cấp các đập, hồ chứa nước, công trình cấp nước sinh hoạt hư hỏng, xuống cấp có nguy cơ mất an toàn; quản lý khai thác, sử dụng hiệu quả, bảo đảm số lượng, chất lượng nước phục vụ sinh hoạt và các hoạt động sản xuất, kinh doanh của người dân, doanh nghiệp.

Xây dựng nông thôn mới theo hướng hiện đại, bao trùm, gắn với đô thị hóa và thích ứng biến đổi khí hậu; thực hiện hiệu quả bộ tiêu chí nông thôn mới nâng cao, kiểu mẫu; huy động hợp lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn đồng bộ, phù hợp với từng khu vực. Thí điểm triển khai mô hình xã nông thôn mới hiện đại tại các khu vực động lực, có khả năng huy động nguồn lực và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội nhanh, xanh, bền vững.

1.1.2. Phát triển mạnh công nghiệp, với công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp năng lượng, công nghiệp công nghệ cao là động lực tăng trưởng chính của nền kinh tế

Phát triển mạnh công nghiệp, với trọng tâm là ngành chế biến, chế tạo. Đẩy nhanh tiến độ đầu tư, hoàn chỉnh hạ tầng các khu, cụm công nghiệp và tăng cường công tác xúc tiến, thu hút các dự án đầu tư thứ cấp nhằm tăng tỷ lệ lấp đầy diện tích các khu, cụm công nghiệp; thu hút các nhà máy chế biến nông, lâm sản, thủy, hải sản tạo ra sản phẩm giá trị gia tăng cao. Nghiên cứu thành lập thêm các khu công nghiệp mới tại các địa điểm phù hợp. Tăng cường đầu tư phát triển tiểu thủ công nghiệp, các làng nghề truyền thống và làng nghề mới, gắn với phát triển văn hóa, du lịch.

Triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 70-NQ/TW, ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; phấn đấu hình thành Trung tâm điện lực Sơn Mỹ trong nhiệm kỳ. Duy trì phát triển ổn định, bền vững thủy điện trên cơ sở bảo đảm môi trường và sinh kế của người dân. Thu hút, tạo điều kiện thuận lợi phát triển các dự án điện theo quy hoạch, nhất là điện mặt trời, điện gió, điện rác, thủy điện tích năng; chuẩn bị tốt việc tham gia thí điểm phát triển điện gió ngoài khơi, gắn với sản xuất hydrogen, amoniac “xanh”…

Phát triển bền vững công nghiệp khai thác, chế biến bô-xít - nhôm, titan, gắn với bảo vệ môi trường; kêu gọi đầu tư sản xuất, chế biến alumin, công nghiệp luyện nhôm và chế biến các sản phẩm từ nhôm, chế biến sâu titan theo hướng sử dụng công nghệ tiên tiến, tiết kiệm và sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường; sớm hình thành Trung tâm công nghiệp khai thác bô-xít, alumin, nhôm, chế biến sâu titan quốc gia.

1.1.3. Phát triển dịch vụ, du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh

Tiếp tục tái cơ cấu ngành dịch vụ, du lịch, tạo động lực phát triển mới; đa dạng hoá các sản phẩm du lịch, ưu tiên phát triển các sản phẩm du lịch mới, chất lượng cao, gắn với ứng dụng công nghệ số, có khả năng cạnh tranh dựa trên lợi thế của tỉnh như: du lịch canh nông, du lịch âm nhạc, du lịch mạo hiểm, du lịch thể thao, du lịch chữa bệnh, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch văn hóa, du lịch thể thao biển, du lịch MICE…

Đẩy mạnh thu hút đầu tư các dự án tổ hợp đô thị - thương mại - dịch vụ - du lịch, khu nghỉ dưỡng cao cấp gắn với dịch vụ vui chơi giải trí, thương mại, dịch vụ, thể thao…; có chiến lược, kế hoạch thu hút đầu tư, phát triển, khai thác Khu du lịch quốc gia Mũi Né, hồ Tuyền Lâm, Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông, cảnh quan Tà Đùng, đặc khu Phú Quý và các khu du lịch trọng điểm, tiềm năng của tỉnh nhằm thu hút các nhà đầu tư có thương hiệu, kinh nghiệm, uy tín, có tiềm lực để đầu tư dự án quy mô lớn, cao cấp, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng ngành du lịch của tỉnh.

Thu hút khách du lịch nội địa, đồng thời chú trọng thu hút khách du lịch quốc tế, nhất là du khách đến từ châu Âu, Liên bang Nga, Bắc Mỹ, Trung Đông, Đông Bắc Á và các nước Đông Nam Á.

Đẩy nhanh tiến độ, thu hút đầu tư các công trình trọng điểm gắn với xây dựng, phát triển công nghiệp văn hóa. Bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn, vệ sinh thực phẩm, môi trường cảnh quan, môi trường xã hội, hình ảnh, văn hóa con người Lâm Đồng. Xây dựng Lâm Đồng là trung tâm du lịch chất lượng cao của cả nước, với các điểm du lịch nổi tiếng, có thương hiệu lớn (Đà Lạt; Bảo Lộc; Phan Thiết, Mũi Né; Phú Quý; Công viên địa chất toàn cầu UNESCO; hồ Tà Đùng…).

Phát triển thương mại trên cơ sở tăng cường liên kết kinh tế chặt chẽ với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, phấn đấu xây dựng Lâm Đồng là trung tâm sản xuất, phân phối hàng nông sản, thủy, hải sản sau chế biến và các mặt hàng có thế mạnh khác cho các tỉnh, thành phố trong cả nước và xuất khẩu.

Đa dạng hóa các hình thức xúc tiến thương mại, bảo đảm hiệu quả, phù hợp với từng thị trường, từng ngành hàng; mở rộng thị trường, phát triển thương hiệu, chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu “Đà Lạt - Kết tinh kỳ diệu từ đất lành”, sản phẩm đạt thương hiệu quốc gia, sản phẩm OCOP, sản phẩm xuất khẩu chủ lực của tỉnh (alumin, nhôm, tơ xe, lụa tơ tằm, sản phẩm may, áo len, cà phê, chè, hạt điều, thanh long, sầu riêng, trái cây đặc sản, rau, củ, quả, hoa tươi, hải sản chế biến…) hướng đến các thị trường tiềm năng Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Úc, Mỹ, châu Âu và các sản phẩm tiêu chuẩn Halal dành cho thị trường Trung Đông.

Đa dạng phương thức và hình thức tổ chức kinh doanh thương mại; thu hút đầu tư các loại hình hạ tầng thương mại có tính lan tỏa, hỗ trợ sản xuất; hình thành trung tâm giao dịch hoa tại đô thị Đà Lạt; trung tâm hội chợ triển lãm tại đô thị Đà Lạt, Phan Thiết, Gia Nghĩa, Bảo Lộc. Phát triển kinh tế đêm tại đô thị Đà Lạt, Phan Thiết. Phát triển hoạt động thương mại, dịch vụ khu vực ven biển, hải đảo, đặc khu Phú Quý. Phát triển các trung tâm thương mại - dịch vụ cấp vùng, gắn kết với không gian trung tâm các đô thị và Cảng hàng không Liên Khương, Cảng hàng không Phan Thiết. Ưu tiên xây dựng các trung tâm logistics tại các cảng biển quốc tế Vĩnh Tân, Sơn Mỹ. Hình thành Trung tâm logistics phường 3 Bảo Lộc, xã Đức Trọng.

Tiếp tục triển khai các chương trình phát triển thương mại điện tử, thực hiện tốt cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. Chủ động, kịp thời đấu tranh, ngăn chặn, xử lý các hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ.

1.1.4. Phát triển bền vững kinh tế biển, kinh tế rừng

Triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 36-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Ðảng (khóa XII) về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Chú trọng phát triển nhanh, bền vững kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, trọng tâm là phát triển kinh tế biển “xanh”, mạnh, bền vững, tăng cường bảo tồn và khôi phục hệ sinh thái biển. Chú trọng bố trí quy hoạch, sắp xếp các khu vực, không gian phát triển kinh tế biển, nhất là các ngành kinh tế biển mới gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo; ưu tiên đầu tư phát triển đồng bộ hạ tầng kết nối, liên kết không gian phát triển các khu vực ven biển để thu hút đầu tư. Phấn đấu trong nhiệm kỳ thành lập Khu kinh tế ven biển phía Nam tỉnh.

Tập trung công tác quản lý, bảo vệ rừng nhất là rừng tự nhiên, rừng đầu nguồn; ngăn chặn, hạn chế thấp nhất tình trạng phá rừng, lấn chiếm rừng và đất lâm nghiệp; nâng tỷ lệ diện tích rừng trồng bằng các loài cây gỗ có năng suất cao, chất lượng tốt. Lãnh đạo thực hiện tốt Kết luận số 103-KL/TW, ngày 02/12/2024 của Bộ Chính trị về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp. Có chính sách, giải pháp phù hợp phát triển kinh tế rừng, kinh tế dưới tán rừng, du lịch sinh thái dưới tán rừng, nuôi trồng, phát triển cây dược liệu dưới tán rừng và các loại lâm sản ngoài gỗ; tăng nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng.

1.2. Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

Tập trung, quyết liệt chỉ đạo tổ chức triển khai, thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị khóa XIII về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng chuyển giao khoa học, công nghệ đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với tiềm năng, điều kiện của tỉnh. Đẩy mạnh chuyển đổi số trên các lĩnh vực; tập trung hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, ứng dụng tiến bộ khoa học tạo ra các sản phẩm có hàm lượng khoa học, công nghệ cao; phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh. Chủ động tiếp cận triển khai các chương trình, dự án khoa học, công nghệ đáp ứng yêu cầu cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Phấn đấu trong nhiệm kỳ hoàn thành đưa Khu công nghệ cao của tỉnh vào hoạt động.

Triển khai các chính sách có tính đột phá gắn với đổi mới sáng tạo; tăng cường mối liên kết giữa nhà nước - nhà khoa học - doanh nghiệp - nhà nông; đẩy mạnh công tác đăng ký, xây dựng và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, phát triển thương hiệu các sản phẩm đặc trưng thế mạnh của tỉnh. Khuyến khích nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học và y sinh, công nghệ vật liệu mới, công nghệ năng lượng, công nghệ thông tin, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo (AI), blockchain vào các lĩnh vực kinh tế - xã hội chủ lực và các địa bàn trọng yếu của tỉnh.

Ban hành các cơ chế, chính sách của tỉnh trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo phù hợp với điều kiện, tình hình thực tế của địa phương. Đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ với các viện nghiên cứu, trường đại học trong và ngoài nước, các tổ chức, địa phương ở các quốc gia có trình độ khoa học và công nghệ, chuyển đổi số phát triển nhất là các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, công nghệ chế biến. Phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ của tỉnh...

Đẩy mạnh việc gắn kết giữa công tác nghiên cứu, chuyển giao kết quả nghiên cứu phục vụ sản xuất và đời sống thông qua áp dụng cơ chế đặt hàng trong nghiên cứu khoa học và công nghệ. Ưu tiên triển khai các nhiệm vụ thuộc lĩnh vực khai thác, bảo tồn nguồn gen quý hiếm; nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học trong chọn tạo giống cây trồng, vật nuôi, công nghệ trong khai thác, chế biến một số sản phẩm nông sản đặc trưng thế mạnh của tỉnh.

Thực hiện hiệu quả công tác chuyển đổi số và Đề án ban hành kèm theo Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ, đặc biệt việc thực hiện quyết liệt, hiệu quả Đề án ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia; thí điểm và nhân rộng, phổ cập các mô hình thành công về chuyển đổi số. Tập trung hoàn thiện hạ tầng số, làm động lực thúc đẩy trong chuyển đổi số, góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Đẩy mạnh triển khai thực hiện 3 trụ cột của chuyển đổi số (chính quyền số, kinh tế số, xã hội số). Ưu tiên phát triển nhân lực số, đẩy mạnh đào tạo kỹ năng số cho cán bộ công chức, viên chức để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ về chuyển đổi số trong thời gian tới.

Tập trung số hóa, ứng dụng các công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động quản lý nhà nước, kết nối với các hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu quốc gia, đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến cho người dân và doanh nghiệp. Phát triển kinh tế số, xã hội số tạo động lực mới cho tăng trưởng; thúc đẩy ứng dụng công nghệ số trong mọi ngành, lĩnh vực, tạo ra các mô hình kinh doanh mới. Thực hiện có hiệu quả phong trào bình dân học vụ số, phát triển công dân số, trang bị kiến thức, kỹ năng cần thiết để người dân tham gia hiệu quả vào nền kinh tế số và xã hội số, bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau. Chuyển đổi số phải gắn với bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng.

1.3. Điều hành tài chính - ngân sách linh hoạt, hiệu quả, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương

Tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong quản lý ngân sách, quản lý chặt chẽ thu ngân sách nhà nước bảo đảm thu đúng, thu đủ, thu kịp thời, khai thác các nguồn thu còn dư địa, tiềm năng; triệt để tiết kiệm giảm chi ngân sách nhà nước, siết chặt kỷ luật, kỷ cương tài chính, ngân sách; quản lý, điều hành, sử dụng ngân sách nhà nước theo dự toán, bảo đảm đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả, chống lãng phí. Phấn đấu tổng thu ngân sách nhà nước tăng từ 10 - 11%/năm; tổng nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội hằng năm chiếm 35 - 40% GRDP.

Thực hiện các giải pháp tăng tiếp cận vốn tín dụng cho doanh nghiệp, hộ kinh doanh phục hồi sản xuất, kinh doanh; thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển an toàn, lành mạnh; triển khai có hiệu quả các giải pháp chuyển đổi mô hình kinh doanh theo hướng ứng dụng công nghệ hiện đại, đa dịch vụ; đẩy mạnh các giải pháp thanh toán không dùng tiền mặt. Thực hiện phương án cơ cấu lại các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu, phấn đấu tốc độ tăng dư nợ cho vay bình quân đạt 12%/năm.

2. Tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, khơi thông các điểm nghẽn; huy động tối đa nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội

2.1. Tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh bình đẳng, công khai, minh bạch; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cải cách hành chính; phát triển các thành phần kinh tế, đưa kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng nhất trong nền kinh tế của tỉnh

Triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị và các nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ về phát triển kinh tế tư nhân. Lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, khơi thông mọi nguồn lực cho phát triển, củng cố niềm tin thị trường để kinh tế tư nhân thực sự trở thành một động lực quan trọng nhất trong tăng trưởng, tăng năng suất lao động và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế tỉnh; xóa bỏ triệt để các rào cản, định kiến về doanh nghiệp, doanh nhân; thúc đẩy tự do kinh doanh ngành nghề mà pháp luật không cấm.

Đẩy mạnh xúc tiến đầu tư, tuyên truyền, quảng bá về tiềm năng, thế mạnh và dự án kêu gọi đầu tư, chính sách thu hút đầu tư của tỉnh, trong đó ưu tiên đối với các dự án đầu tư phát triển các ngành kinh tế động lực, ngành khai thác lợi thế của tỉnh; chú trọng thu hút các tập đoàn, công ty xuyên quốc gia, đa quốc gia trong và ngoài nước; có định hướng, chiến lược phát triển mở rộng thị trường, cam kết đầu tư lâu dài.

Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cải cách hành chính; rà soát cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, quy định liên quan đến sản xuất, kinh doanh của người dân, doanh nghiệp để tháo gỡ mọi rào cản, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển. Nâng cao chất lượng phục vụ, gắn với việc đổi mới cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính nhằm nâng cao chất lượng phục vụ. Khuyến khích tinh thần khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Triển khai kịp thời các cơ chế, chính sách hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu phát triển, ứng dụng tiến bộ khoa học, đổi mới công nghệ, chuyển đổi số; hình thành doanh nghiệp lớn, có thương hiệu; phát triển đội ngũ doanh nhân lớn mạnh cả về số lượng, chất lượng. Phấn đấu đến năm 2030 toàn tỉnh có khoảng 33.000 doanh nghiệp có hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong giai đoạn mới trên địa bàn tỉnh. Phát triển kinh tế tập thể với nhiều hình thức đa dạng, nòng cốt là hợp tác xã. Tăng cường liên kết giữa tổ chức kinh tế tập thể với các tổ chức thuộc thành phần kinh tế khác, đặc biệt là liên kết với doanh nghiệp nhà nước.

2.2. Tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, khơi thông các điểm nghẽn

Tận dụng tốt cơ hội từ các đột phá về thể chế của Trung ương; tập trung rà soát, tháo gỡ dứt điểm các khó khăn, vướng mắc cho các dự án đầu tư, nhất là các dự án đầu tư theo phương thức công tư, các dự án năng lượng tái tạo, đô thị, thương mại - dịch vụ,…; tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư chiến lược, có năng lực, kinh nghiệm đầu tư các dự án lớn có sức lan tỏa tới các ngành, lĩnh vực.

Tích cực tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong triển khai các dự án đầu tư công, nhất là trong công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan Trung ương để xử lý dứt điểm các điểm nghẽn, bất cập trong quy hoạch khoáng sản quốc gia trên địa bàn.

2.3. Huy động tối đa nguồn lực, tập trung đầu tư, hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là hạ tầng giao thông quan trọng, kết nối liên vùng, hạ tầng đô thị

Huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn vốn trong và ngoài ngân sách nhà nước để đẩy mạnh đầu tư, hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; triển khai thực hiện có hiệu quả các cơ chế, chính sách thu hút đầu tư theo phương thức đối tác công tư, xã hội hóa,… Quyết tâm thực hiện tốt tiến độ giải ngân đầu tư công; triển khai hiệu quả kế hoạch đầu tư công trung hạn, ưu tiên đầu tư các dự án có sức lan tỏa lớn, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội, nhất là hạ tầng tại các đô thị lớn, hạ tầng giao thông(26), hạ tầng thúc đẩy liên kết vùng, liên kết các địa phương trong tỉnh, hạ tầng kinh tế số, giáo dục, y tế, văn hóa, vùng khó khăn, khu vực chịu ảnh hưởng thiên tai, biến đổi khí hậu. Tập trung làm tốt công tác chuẩn bị đầu tư, công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định canh, tái định cư; kiên quyết loại bỏ các dự án không thật sự cần thiết, tránh đầu tư dàn trải, không khả thi, kém hiệu quả.

Tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW, ngày 24/01/2022 của Bộ Chính trị về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Triển khai quy hoạch, đầu tư, xây dựng Trung tâm hành chính - chính trị mới của tỉnh ở vị trí có nhiều tiềm năng, dư địa, động lực mới để phát triển quỹ đất, thương mại, dịch vụ, du lịch, khu công nghệ cao, mở rộng không gian đô thị; có hệ thống giao thông thuận lợi trong việc kết nối tỉnh với các trung tâm kinh tế - tài chính, công nghiệp, khoa học - công nghệ và các tuyến giao thông quan trọng của quốc gia.

Tăng cường chỉnh trang, phát triển đô thị và kinh tế đô thị; từng bước cải thiện, nâng cao chất lượng hạ tầng đô thị đồng bộ, hiện đại và thích ứng với biến đổi khí hậu; phát triển hạ tầng thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại các đô thị lớn. Đẩy nhanh tiến độ triển khai các khu đô thị, khu dân cư, khu tái định cư, khu đô thị TOD mới theo quy hoạch. Triển khai các giải pháp chống ùn tắc giao thông, phát triển giao thông công cộng, phương tiện “xanh” tại đô thị Đà Lạt, Mũi Né; phát triển các bãi đậu xe công cộng hiện đại, đáp ứng nhu cầu lâu dài cho trung tâm đô thị Đà Lạt, Phan Thiết. Tăng cường khai thác, sử dụng hệ thống không gian ngầm, công trình ngầm đô thị, không gian đa chức năng của đô thị. Thực hiện ngầm hóa toàn bộ các đường dây, cáp dịch vụ công cộng tại trung tâm các đô thị lớn. Hoàn thiện hệ thống giao thông nông thôn theo bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới nâng cao. Nghiên cứu xây dựng, kiến nghị cấp có thẩm quyền ban hành cơ chế, chính sách đặc thù phát triển kinh tế - xã hội đặc khu Phú Quý, nhất là trong lĩnh vực năng lượng, tài nguyên nước, dịch vụ hậu cần nghề cá.

Tăng cường kết nối các phương thức vận tải, khuyến khích phát triển vận tải đa phương thức và logistics, chuyển đổi năng lượng xanh; tập trung nâng cao chất lượng dịch vụ và giảm chi phí vận tải logistics. Đẩy mạnh việc mở mới các đường bay quốc tế, nội địa từ Cảng hàng không Liên Khương, Phan Thiết đến các quốc gia trong khu vực ASEAN, các quốc gia có lượng du khách lớn (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Liên Bang Nga…) và đến các tỉnh, thành phố du lịch trong nước. Tập trung phát triển hệ thống vận tải hành khách công cộng xanh, sạch, chất lượng cao, kết nối đến các trung tâm kinh tế - xã hội, các đô thị, các cảng hàng không, các cảng biển, ga hành khách… để đáp ứng tốt nhu cầu đi lại của Nhân dân.

3. Hoàn thiện, đồng bộ hệ thống quy hoạch; tăng cường quản lý, sử dụng hiệu quả đất đai, tài nguyên, khoáng sản, bảo vệ môi trường và chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu

Nâng cao chất lượng công tác lập quy hoạch, quy chế quản lý kiến trúc; gắn kết chặt chẽ giữa công tác lập quy hoạch, phát triển đô thị với nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng, an ninh. Triển khai tốt công tác lập điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Lâm Đồng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 theo không gian phát triển mới; tập trung hoàn thành công tác lập, điều chỉnh các quy hoạch đô thị, nông thôn, khu chức năng, quy hoạch sử dụng đất bảo đảm đồng bộ, chất lượng và kịp thời, tạo điều kiện thuận lợi thu hút đầu tư, phát triển đô thị và hạ tầng kỹ thuật.

Huy động các nguồn lực để triển khai chương trình phát triển đô thị, chương trình phát triển nhà ở. Triển khai hiệu quả Chỉ thị số 34-CT/TW, ngày 24/5/2024 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với công tác phát triển nhà ở xã hội trong tình hình mới, trọng tâm là nâng cao chất lượng, đổi mới phương thức, mô hình quản lý và phát triển nhà ở xã hội, đặc biệt là nhà ở cho người có thu nhập thấp tại đô thị và công nhân, lao động tại các khu công nghiệp. Chủ động đề xuất, chú trọng áp dụng thực hiện các cơ chế, chính sách để phát triển các tiểu vùng, đô thị, dự án quy mô lớn, trọng điểm, các khu đô thị mới gắn với trục quốc lộ, trục kết nối cao tốc, đường sắt cao tốc. Tăng cường công tác quản lý trật tự xây dựng và trật tự đô thị trên địa bàn tỉnh.

Thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao. Hoàn thiện hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu đất; thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước trong hoạt động khai thác tài nguyên, khoáng sản, bảo vệ đa dạng sinh học và hệ sinh thái; quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên biển, hải đảo, vùng bờ biển; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ viễn thám. Triển khai thực hiện có hiệu quả công tác bảo đảm an ninh nguồn nước và an toàn đập, hồ chứa thủy lợi; quan tâm chống sạt lở bờ sông, bờ biển, xâm nhập mặn, thoái hóa đất.

Tăng cường thực hiện thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên bảo đảm hiệu quả, bền vững. Xử lý triệt để, dứt điểm các cơ sở gây ô nhiễm môi trường; kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng và xử lý các loại hóa chất, chất thải nguy hại tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh; chọn lọc tiêu chuẩn kỹ thuật, kiên quyết loại trừ công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường. Hỗ trợ, khuyến khích người dân, doanh nghiệp tháo dỡ, di dời nhà kính, nhà lưới ra khỏi khu vực trung tâm đô thị Đà Lạt. Tăng cường kiểm tra, thanh tra, kiên quyết xử lý, thu hồi, chấm dứt các dự án chậm triển khai theo quy định của Luật Đất đai, Luật Đầu tư, tránh lãng phí nguồn lực về đất đai.

4. Phát triển văn hóa, giáo dục, đào tạo, y tế, bảo đảm an sinh, phúc lợi xã hội

Triển khai đồng bộ các giải pháp để phát triển văn hóa ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội. Quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, ưu tiên bố trí ngân sách và lồng ghép các nguồn lực đầu tư để thực hiện hiệu quả, đúng lộ trình chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa. Khai thác và phát triển tiềm năng về công nghiệp văn hóa, dịch vụ văn hóa đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu hưởng thụ văn hóa của Nhân dân. Đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng và quản lý tốt môi trường văn hóa.

Tập trung xây dựng phát triển văn hóa, con người tỉnh Lâm Đồng mới tiên tiến, hội tụ trong đa dạng và phát huy các giá trị văn hóa đậm đà bản sắc của từng vùng, miền, dân tộc đồng bộ trên nền tảng hệ giá trị quốc gia; phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, ý thức dân tộc, trách nhiệm công dân, năng lực sáng tạo, thẩm mỹ, thể lực, kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp. Chú trọng phát triển văn hóa chính trị, phát triển văn hóa kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp, văn hóa khởi nghiệp sáng tạo và đạo đức kinh doanh. Tập trung xây dựng đời sống, lối sống văn hóa trong gia đình, trường học, cơ quan, đơn vị và cộng đồng dân cư, thu hẹp khoảng cách về hưởng thụ văn hóa giữa các vùng, miền, giữa các tầng lớp Nhân dân, đưa phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả.

Thực hiện tốt công tác bảo vệ, bảo tồn, tôn tạo, quảng bá các giá trị văn hóa, di tích lịch sử - văn hóa, nhất là giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào các dân tộc thiểu số. Phát triển phong trào thể thao quần chúng, từng bước hiện đại và chuyên nghiệp hoá về thể thao thành tích cao; tập trung vào các môn, lĩnh vực có thế mạnh của tỉnh gắn với đào tạo đội ngũ huấn luyện viên, vận động viên nòng cốt bảo đảm chất lượng để tham gia vào các đội tuyển trẻ, đội tuyển quốc gia. Quy hoạch, đầu tư xây dựng các thiết chế văn hoá, thể thao phục vụ các khu dân cư, nhất là các khu dân cư lao động biển, dân cư nông thôn.

Lãnh đạo triển khai thực hiện toàn diện Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Quan tâm, đầu tư phát triển giáo dục - đào tạo, nguồn nhân lực theo hướng liên kết vùng, hiện đại, hội nhập, lấy chất lượng làm trung tâm, gắn đào tạo với sử dụng, tạo nền tảng cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh hợp nhất trong bối cảnh mới. Thu hút, đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư; phát triển hệ thống trường ngoài công lập theo hướng đạt chuẩn quốc tế và trường chất lượng cao, nâng cao chất lượng giáo dục của tỉnh; tăng cường chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ thông tin, các điều kiện bảo đảm dạy - học; chú trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành cho học sinh và công tác xóa mù chữ; tăng cường định hướng nghề nghiệp cho thanh niên từ bậc học phổ thông; hỗ trợ các trung tâm học tập cộng đồng, nhất là ở biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên; chú trọng phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo.

Tỉnh Lâm Đồng (Trong ảnh là một góc trung tâm Đà Lạt) sau sắp xếp đơn vị hành chính là địa phương rộng nhất cả nước. Ảnh: Chính Thành
Tỉnh Lâm Đồng (Trong ảnh là một góc trung tâm Đà Lạt) sau sắp xếp đơn vị hành chính là địa phương rộng nhất cả nước. Ảnh: Chính Thành

Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, bảo đảm công bằng, bình đẳng trong cơ hội tiếp cận giáo dục của người dân. Thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục tạo nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; kết hợp hài hòa giữa đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực với giải quyết việc làm cho lao động sau đào tạo.

Triển khai thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 72-NQ/TW, ngày 9/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân. Xây dựng hệ thống y tế công bằng, chất lượng, hiệu quả, bền vững; huy động, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe, chất lượng cuộc sống của người dân. Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh của các bệnh viện tuyến tỉnh, bệnh viện khu vực, trung tâm y tế khu vực và cơ sở y tế tuyến xã; đổi mới hệ thống quản lý và cung cấp dịch vụ y tế; bao phủ chăm sóc sức khỏe, bảo hiểm y tế toàn dân; chú trọng nâng cao năng lực hệ thống y tế dự phòng. Thu hút, mở rộng mạng lưới khám, chữa bệnh y học cổ truyền, các bệnh viện chuyên khoa; phát triển hệ thống y tế ngoài công lập.

Tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật chuyên sâu, hiện đại; đào tạo nâng cao chất lượng nhân lực ngành y tế thực hiện các hoạt động y tế chuyên sâu, bảo đảm cung cấp các dịch vụ y tế chất lượng cao, kỹ thuật cao. Tiếp tục đầu tư nâng cấp Bệnh viện Đa khoa tỉnh có khả năng thực hiện các dịch vụ kỹ thuật cao. Sửa chữa cơ sở vật chất, đầu tư trang thiết bị và đào tạo, bồi dưỡng nhân lực cho các bệnh viện khu vực trong tỉnh đáp ứng yêu cầu khám, điều trị bệnh cho Nhân dân. Thu hút đầu tư xã hội hóa các bệnh viện, viện dưỡng lão, điều dưỡng phục hồi chức năng, các loại hình du lịch y tế đáp ứng nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh, du lịch nghỉ dưỡng cho Nhân dân và du khách. Đổi mới phong cách, thái độ phục vụ, xây dựng cơ sở y tế xanh, sạch, đẹp, thân thiện. Triển khai hiệu quả chương trình Sức khỏe Việt Nam, nâng cao chất lượng dân số, sức khỏe, tầm vóc, tuổi thọ của người dân; có giải pháp khuyến sinh để đạt mức sinh thay thế bền vững. Tăng cường kết hợp quân dân y, y tế công an, nhất là tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, hải đảo.

Thực hiện tốt chính sách người có công với cách mạng; quan tâm công tác đền ơn đáp nghĩa. Thực hiện tốt công tác bình đẳng giới, chăm sóc người cao tuổi, chính sách bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, người khuyết tật; chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và các chính sách an sinh xã hội khác. Thực hiện tốt các chính sách về giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống Nhân dân. Phát triển giáo dục nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu xây dựng thị trường lao động linh hoạt, gắn đào tạo với sử dụng; tập trung giải quyết việc làm bền vững, đặc biệt là việc làm cho lao động nông nghiệp. Tiếp tục thực hiện tốt các chính sách giảm nghèo, nâng cao điều kiện sống cho các hộ nghèo, hỗ trợ sinh kế, phương tiện sản xuất. Thực hiện việc huy động các nguồn lực xã hội và lồng ghép các chương trình, dự án giảm nghèo vào các chương trình có cùng mục tiêu để đem lại hiệu quả cao và bền vững. Phấn đấu đến năm 2030, cơ bản không còn hộ nghèo; xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ miễn, giảm chi phí cho một số đối tượng chính sách, người nghèo, người yếu thế trong khám, chữa bệnh.

Tiếp tục thực hiện hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Từng bước đầu tư mới, nâng cấp, hoàn thiện cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, văn hóa... vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Giải quyết tốt các vấn đề di cư tự do, thiếu đất ở, đất sản xuất của người dân tộc thiểu số.

Cán bộ, giảng viên, học viên Học viện Lục quân đón chào lãnh đạo Bộ Quốc phòng dự Lễ khai giảng năm học mới
Cán bộ, giảng viên, học viên Học viện Lục quân đón chào lãnh đạo Bộ Quốc phòng dự Lễ khai giảng năm học mới

5. Tăng cường quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội; tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động đối ngoại

Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; chiến lược Bảo vệ An ninh Quốc gia. Củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và biên phòng toàn dân vững mạnh; xây dựng Khu vực phòng thủ tỉnh vững chắc; kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh. Chú trọng bảo đảm chủ quyền an ninh biên giới trên bộ và trên biển. Nắm chắc tình hình, kịp thời phát hiện, chủ động đấu tranh, ngăn chặn làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, không để xảy ra biểu tình, bạo loạn, bị động, bất ngờ, xảy ra điểm nóng về an ninh, trật tự; bảo vệ tuyệt đối an toàn các mục tiêu, công trình trọng điểm, sự kiện chính trị, văn hóa, xã hội lớn, quan trọng tại địa phương. Lãnh đạo, chỉ đạo và đầu tư xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị; giải quyết tốt mối quan hệ với cấp ủy, chính quyền và Nhân dân địa phương nơi biên giới với Campuchia, góp phần thực hiện hiệu quả công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng.

Xây dựng lực lượng vũ trang tỉnh cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Xây dựng lực lượng dự bị động viên và dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Tiếp tục đầu tư xây chốt dân quân thường trực biên giới; điểm dân cư liền kề chốt dân quân thường trực biên giới; đồn, trạm biên phòng biên giới đất liền; xây dựng hải đội dân quân thường trực; xây dựng các công trình phòng thủ trên đảo Phú Quý, đảo Cù Lao Câu; xây dựng nhà làm việc ban chỉ huy quân sự xã, phường, đặc khu.

Đổi mới, tăng cường công tác xây dựng phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc vững mạnh toàn diện. Tiếp tục thực hiện hiệu quả các chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm và phòng, chống ma túy; chiến lược quốc gia về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông; phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong phòng, chống tội phạm nhất là tội phạm hình sự, ma túy, kinh tế, tham nhũng, môi trường... tiến tới kiềm chế sự gia tăng tội phạm, kiên quyết không để hình thành các băng nhóm tội phạm có tổ chức trên địa bàn tỉnh; đổi mới công tác quản lý Nhà nước về an ninh trật tự theo hướng tăng cường áp dụng khoa học, công nghệ hiện đại; bảo đảm an toàn giao thông đường sắt, đường biển theo hướng thực hiện đồng bộ các giải pháp kiềm chế tai nạn giao thông, phấn đấu giảm số người chết vì tai nạn giao thông hàng năm. Tăng cường công tác phòng cháy, chữa cháy; tổ chức diễn tập, nâng cao ý thức phòng cháy, chữa cháy cho người dân, hạn chế xảy ra các vụ cháy, nổ đặc biệt nghiêm trọng gây thiệt hại lớn về người và tài sản... Tập trung xử lý, giải quyết tốt các khiếu nại, tố cáo phát sinh ngay tại cơ sở, bảo đảm thực hiện đúng quy trình, thời hạn theo quy định; xử lý, giải quyết dứt điểm các khiếu nại, tố cáo, vụ án tồn đọng, kéo dài,... không để kẻ xấu lợi dụng, kích động chống phá.

Tiếp tục thực hiện hiệu quả đường lối, chính sách đối ngoại, hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước. Triển khai thực hiện tốt Nghị quyết số 59-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới. Kịp thời điều chỉnh, bổ sung các quy định thuộc thẩm quyền địa phương phù hợp với chính sách đối ngoại và lộ trình hội nhập quốc tế. Tăng cường, củng cố đường biên giới hòa bình, ổn định, hữu nghị và hợp tác. Triển khai thỏa thuận chương trình Hợp tác phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2022 - 2026 với tỉnh Mondulkiri, Vương quốc Campuchia; các tỉnh Champasak và Bolykhamsay của nước CHDCND Lào. Làm tốt công tác thông tin tuyên truyền, nâng cao nhận thức trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân về biển, đảo, đường biên giới trên bộ, hội nhập quốc tế; tăng cường quan hệ đối ngoại với các cơ quan đại diện các nước, tổ chức quốc tế, vận động kiều bào về đầu tư tại địa phương. Chủ động, phối hợp với các bộ, ngành Trung ương giải quyết các vấn đề còn tồn tại liên quan đến đường biên giới trên bộ với tỉnh Mondulkiri của Campuchia. Tiếp tục lãnh đạo thực hiện tốt công tác đối ngoại quốc phòng.

Đổi mới hình thức và nội dung công tác ngoại giao văn hóa và thông tin đối ngoại, nâng cao hiệu quả, hiệu ứng quảng bá, tuyên truyền, giới thiệu hình ảnh, con người, sản phẩm, thế mạnh của địa phương. Tiếp tục tăng cường quan hệ đối ngoại, hợp tác phát triển kinh tế với các địa phương các nước phát triển, các cơ quan đại diện các nước và tổ chức quốc tế tại Việt Nam; tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài, đẩy mạnh thu hút nguồn đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực có lợi thế để phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống của Nhân dân. Triển khai đồng bộ các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu; hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm, mở rộng thị trường.

6. Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả

6.1. Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh

Tiếp tục quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” gắn với thực hiện các Quy định của Đảng về nêu gương và Quy định số 144-QĐ/TW, ngày 09/5/2024 của Bộ Chính trị về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới. Trong đó, chú trọng đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số; đề cao vai trò nêu gương, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý; nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình gắn với trách nhiệm cá nhân; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm. Kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa “xây” và “chống”, xây là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài, chống là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, thường xuyên.

Thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, gắn với nêu cao trách nhiệm của tổ chức và cá nhân, nhất là người đứng đầu theo phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”. Giữ vững sự lãnh đạo tập trung, thống nhất, kỷ luật, kỷ cương; phát huy tinh thần đoàn kết, thống nhất, trước hết là tập thể lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương; bảo đảm nguyên tắc quyền lực đi đôi với trách nhiệm, mọi cán bộ, đảng viên phải hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, nguyên tắc và kỷ luật của Đảng.

6.2. Xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức và đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

Tuyên truyền, giáo dục trong toàn Đảng bộ về mục tiêu, quan điểm, nguyên tắc và đường lối đổi mới của Đảng; việc chấp hành nghiêm các nguyên tắc của Đảng; đổi mới công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao chất lượng học tập lý luận chính trị; nâng cao lập trường, bản lĩnh chính trị, tính chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên; vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới của Đảng vào thực tiễn của Đảng bộ.

Chú trọng xây dựng Đảng về đạo đức; tiếp tục triển khai sâu, rộng, hiệu quả Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị và các kế hoạch của Ban Thường vụ Tỉnh ủy tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đề cao trách nhiệm nêu gương, ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu; tăng cường, coi trọng công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng; nâng cao vai trò giám sát của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân; thực hiện nghiêm các quy định nêu gương của Đảng, Quy định về những điều đảng viên không được làm, cán bộ giữ cương vị càng cao càng phải tiên phong, gương mẫu.

Tăng cường công tác nắm tình hình, xử lý thông tin, định hướng dư luận xã hội; triển khai sâu, rộng, hiệu quả công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; quản lý, định hướng hoạt động của các cơ quan báo chí, mạng xã hội; làm tốt công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận.

Thường xuyên giáo dục đạo đức cách mạng, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên; giúp mỗi cán bộ, đảng viên thấy rõ trách nhiệm của mình, vững vàng trước những khó khăn, thách thức; xây dựng văn hóa trong Đảng, tạo lan tỏa ra xã hội. Tiếp tục đổi mới việc học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng, cập nhật kiến thức lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên bảo đảm thiết thực hiệu quả.

6.3. Đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc các cấp hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả

Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục rà soát sắp xếp, hoàn thiện tổ chức bộ máy hệ thống chính trị, xây dựng chính quyền địa phương 2 cấp tinh gọn, gắn với cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và tinh giản biên chế, bảo đảm hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo Nghị quyết Trung ương 6, khóa XII, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 11, khóa XIII và các nghị quyết, kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư (khóa XIII), Quốc hội, Chính phủ.

Nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh và cấp xã; đổi mới nội dung, hình thức các kỳ họp, việc tiếp xúc cử tri, giám sát và tiếp thu ý kiến của cử tri. Đổi mới, nâng cao năng lực quản lý, điều hành của chính quyền cấp tỉnh và cấp xã. Cụ thể hóa các quy định của Trung ương, thực hiện tốt việc phân công, phân cấp, phân quyền gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực. Xây dựng chính quyền điện tử, thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường mạng.

Triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 66-NQ/TW, ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền; khai thác, sử dụng hiệu quả các nền tảng số, dữ liệu số phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành trên môi trường số; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ, năng lực, đạo đức lối sống trong sáng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động, của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, hội quần chúng; đổi mới mạnh mẽ, đa dạng hóa hình thức tuyên truyền, tập hợp. Tiếp tục nâng cao vai trò, chất lượng giám sát, phản biện xã hội, tham gia góp ý xây dựng Đảng, chính quyền của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, Nhân dân.

6.4. Tiếp tục nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên

Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên; rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện và thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, mối quan hệ công tác của các loại hình tổ chức cơ sở đảng; đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ; nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo, kỹ năng và nghiệp vụ công tác đảng cho đội ngũ cấp ủy viên cơ sở. Đề cao tính chủ động, sáng tạo, trách nhiệm và vai trò của người đứng đầu trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện; thực hiện tốt các nguyên tắc của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình; đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực, gây mất đoàn kết nội bộ; quan tâm xây dựng đội ngũ đảng viên nhất là cấp ủy viên, bí thư cấp ủy, bí thư chi bộ đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Nâng cao chất lượng phát triển đảng viên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Đổi mới, tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị cho đảng viên; tăng cường công tác quản lý đảng viên, gắn với rà soát, sàng lọc đưa ra khỏi Đảng những đảng viên không đủ tư cách. Tăng cường kiểm tra, giám sát, kịp thời xử lý tổ chức đảng, đảng viên vi phạm. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, hội quần chúng và Nhân dân tham gia xây dựng, nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên. Chú trọng phát triển đảng viên mới, bảo đảm số lượng, chất lượng; đánh giá tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên đi vào thực chất thông qua sản phẩm, hiệu quả công việc.

6.5. Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ; tăng cường bảo vệ chính trị nội bộ

Xác định vai trò công tác cán bộ là “then chốt của then chốt”. Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng và bảo đảm quyền hạn, trách nhiệm của người đứng đầu. Khẩn trương đổi mới, cụ thể hóa, thực hiện đồng bộ thể chế về công tác cán bộ, nhất là trong đánh giá, sử dụng, đào tạo cán bộ. Xây dựng đội ngũ cán bộ có tư duy và tầm nhìn chiến lược, dài hạn, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất, năng lực, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, thực sự là đạo đức, là văn minh, gắn bó mật thiết với Nhân dân, ngày càng được Nhân dân tin tưởng. Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sắp xếp khoa học, hợp lý, bảo đảm đội ngũ cán bộ cấp xã giỏi về quản lý kinh tế và quản trị xã hội.

Tạo môi trường, xây dựng cơ chế khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Quan tâm coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học, cán bộ nữ, cán bộ trẻ, cán bộ dân tộc thiểu số, cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước.

Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, thử thách đối với các đồng chí là nhân sự được quy hoạch tham gia cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy các cấp; thực hiện công tác cán bộ đúng nguyên tắc dân chủ, công khai, minh bạch, khách quan; lựa chọn cấp ủy, cán bộ, nhất là người đứng đầu “có năng lực nổi trội; đạo đức tiêu biểu; phong cách làm việc mạnh mẽ, nói được, làm được”.

Thực hiện nghiêm, đúng phương châm “động” và “mở” về công tác quy hoạch cán bộ; thực hiện đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thực sự có chất lượng; thực hiện luân chuyển, điều động, miễn nhiệm, cho từ chức ngay khi phát hiện cán bộ không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Kiên quyết sàng lọc, đưa ra khỏi vị trí công tác đối với những người không đủ phẩm chất, năng lực, uy tín; kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, ngăn chặn triệt để biểu hiện chạy chức, chạy quyền. Kịp thời cụ thể hóa và thực hiện tốt các văn bản của Trung ương về công tác cán bộ.

Thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, nhất là chính trị hiện nay; làm tốt công tác rà soát, thẩm định, thẩm tra, xác minh và kết luận tiêu chuẩn chính trị bảo đảm chặt chẽ, đúng quy định; kịp thời nắm bắt, phòng ngừa, đấu tranh với hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ.

6.6. Đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng

Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giám sát; chuyển trọng tâm sang công tác phòng ngừa, cảnh báo vi phạm, thực hiện giám sát các nghị quyết của Đảng trên tất cả các lĩnh vực, nhất là các lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh vi phạm; thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; kê khai tài sản, thu nhập; chú trọng công tác tự kiểm tra, tự giám sát, kịp thời chấn chỉnh, khắc phục những hạn chế, yếu kém phát hiện, xử lý dứt điểm từ đầu, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn, kéo dài và lan rộng; kịp thời cảnh báo, ngăn ngừa, giữ cho tổ chức Đảng và đảng viên không đi chệch hướng, để các chủ trương, chính sách của Đảng được tổ chức thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả, ngay từ khi mới ban hành. Tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát của ủy ban kiểm tra cấp trên đối với cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra cấp dưới, nhất là cấp xã về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng.

Từng bước chuyển từ thụ động sang chủ động nắm chắc tình hình, không để có “khoảng trống”, “vùng tối”; gắn công tác kiểm tra, giám sát với kiểm soát quyền lực; đổi mới công tác giám sát thường xuyên, xây dựng cơ chế giám sát hiệu quả, có khả năng cảnh báo sớm và phòng ngừa vi phạm ngay từ cơ sở, không để các vi phạm nhỏ tích tụ thành vi phạm nghiêm trọng. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ cách thức, phương pháp, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, liên thông hệ thống cơ sở dữ liệu giữa ủy ban kiểm tra với các cơ quan nhà nước tiến đến từng bước chuyển đổi số toàn diện trong hoạt động của ngành kiểm tra Đảng và hệ thống chính trị, từng bước chuyển công tác kiểm tra, giám sát sang “giám sát trên dữ liệu, kiểm tra trên dữ liệu”.

Thực hiện nghiêm minh công tác thi hành kỷ luật Đảng, không có “vùng cấm”, “ngoại lệ”; tiến hành đồng bộ giữa kỷ luật đảng, kỷ luật hành chính, đoàn thể. Phối hợp kịp thời, chặt chẽ, đồng bộ và hiệu quả giữa công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với công tác thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.

Quan tâm củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ ủy ban kiểm tra các cấp, bảo đảm số lượng, nâng cao về chất lượng, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến về công tác kiểm tra, giám sát và công khai kết quả xử lý các vụ việc trên các phương tiện thông tin đại chúng.

6.7. Tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng

Thực hiện tốt công tác dân vận của Đảng, nhất là đổi mới công tác dân vận chính quyền, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; kịp thời nắm tình hình cơ sở, giải quyết những vấn đề bức xúc, nổi cộm trong Nhân dân; tăng cường củng cố, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc; chú trọng tạo điều kiện để phát huy nội lực, nâng cao vai trò làm chủ, phát triển vươn lên của đồng bào các dân tộc thiểu số; thực hiện tốt công tác dân tộc, tôn giáo để đoàn kết, tập hợp các tầng lớp Nhân dân; đấu tranh, làm thất bại âm mưu, hoạt động chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc và tín ngưỡng, tôn giáo; tập trung xử lý dứt điểm các vụ việc về đất đai có liên quan đến dân tộc, tôn giáo.

Thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở, nâng cao vai trò của Nhân dân trong thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tiếp tục thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Lấy sự hài lòng, tín nhiệm của người dân làm một trong những tiêu chí để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng viên.

Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể trong tập hợp, đoàn kết, phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, tiềm năng, sức sáng tạo của Nhân dân. Chú trọng đối thoại, tiếp xúc với Nhân dân, sâu sát cơ sở, lắng nghe tâm tư, kịp thời giải quyết nguyện vọng chính đáng, hợp pháp của Nhân dân, góp phần củng cố, nâng cao niềm tin của Nhân dân đối với Đảng. Tích cực đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, thực hiện tốt phong trào thi đua “Dân vận khéo”, tuyên truyền, biểu dương, nhân rộng các mô hình, điển hình về công tác dân vận.

6.8. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác nội chính; đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực

Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, nhất là người đứng đầu đối với công tác nội chính, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; tiếp tục đẩy mạnh, kiên trì, kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, trong đó trọng tâm là thực hiện đồng bộ các giải pháp với phương châm “Không thể, không dám, không muốn, không cần tham nhũng”. Kết hợp chặt chẽ phòng ngừa, chủ động phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời những hành vi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức và tinh thần trách nhiệm về công tác đấu tranh, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; xây dựng văn hóa liêm chính, văn hóa chống tham nhũng, lãng phí trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Gắn phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, củng cố hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng bộ, chính quyền trong sạch, vững mạnh, tạo niềm tin của Nhân dân với Đảng.

Thực hiện nghiêm các quy định của Trung ương về kiểm soát quyền lực, trách nhiệm người đứng đầu; cơ chế bảo vệ, khuyến khích người đứng đầu kiểm tra, phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; cơ chế bảo vệ, khuyến khích người tố cáo, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; kiểm soát có hiệu quả tài sản thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn. Chỉ đạo rà soát, xử lý tài sản nhà, đất, trụ sở sau sắp xếp, sáp nhập.

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, phát hiện sớm, xử lý nghiêm minh các vụ việc, vụ án tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; kịp thời xử lý, điều chuyển, thay thế cán bộ lãnh đạo, quản lý khi có dư luận hoặc có biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, uy tín thấp; xử lý nghiêm những cán bộ nhũng nhiễu, tiêu cực, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp, nhất là trong khu vực hành chính, dịch vụ công.

Kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ, nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị có chức năng phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và các cơ quan tham mưu cho cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan và đại biểu dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, hội quần chúng và Nhân dân và cơ quan truyền thông, báo chí trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

6.9. Đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng

Đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới theo tinh thần Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 17/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chương trình hành động của Tỉnh ủy, tuyệt đối không để xảy ra bao biện, làm thay hoặc buông lỏng sự lãnh đạo của Đảng.

Lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới, nâng cao chất lượng ban hành nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch… của Đảng với tinh thần ổn định để phát triển, phát triển để duy trì ổn định; lấy phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm; lấy hạnh phúc và ấm no của Nhân dân là mục tiêu phấn đấu. Mở rộng dân chủ đi đôi với tăng cường, giữ vững kỷ luật, kỷ cương và nguyên tắc của Đảng.

Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy đối với hoạt động của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, các cơ quan tư pháp, Mặt trận Tổ quốc các cấp. Các cấp ủy lãnh đạo trực tiếp, toàn diện các lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh và đối ngoại; tập trung các lĩnh vực quan trọng, các khâu then chốt, các vấn đề phức tạp, nhạy cảm. Tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm những tổ chức đảng, đảng viên vi phạm.

Đẩy mạnh cải cách hành chính gắn với xây dựng chính quyền điện tử; đổi mới tổ chức bộ máy, quy trình tổ chức thực hiện, phương pháp, phong cách, tác phong, lề lối làm việc của cán bộ, công chức; phát huy tinh thần trách nhiệm, vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu và đổi mới công tác cán bộ.

Tăng cường tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong giai đoạn mới. Nâng cao chất lượng sơ, tổng kết các nghị quyết, chỉ thị của Đảng.

* * *

Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và Nhân dân các dân tộc tỉnh Lâm Đồng phát huy tinh thần đoàn kết, yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, khát vọng xây dựng quê hương, đất nước phồn vinh, hạnh phúc, đẩy mạnh phát triển kinh tế, xã hội, giữ vững ổn định chính trị, quốc phòng, an ninh; thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV; phấn đấu xây dựng tỉnh Lâm Đồng đến năm 2030 trở thành tỉnh phát triển khá của cả nước, là một trong những cực tăng trưởng năng động của khu vực trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Mọi ý kiến góp ý gửi về Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy Lâm Đồng, địa chỉ email: phongtuyentruyen.btgdvld@gmail.com

(1): Gồm: 3 chỉ tiêu kinh tế (Tổng sản phẩm trong nước GRDP; Tổng thu ngân sách nhà nước; Lượng khách du lịch qua đăng ký lưu trú), 7 chỉ tiêu xã hội (Tỷ lệ lao động qua đào tạo; Tỷ lệ thất nghiệp; Tỷ lệ nghèo đa chiều; Số bác sĩ, giường bệnh/vạn dân; Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên; Tỷ lệ thanh niên trong độ tuổi hoàn thành chương trình THPT và tương đương; Số hộ gia đình văn hóa, thôn, buôn, tổ dân phố… đạt văn hóa) và 1 chỉ tiêu môi trường (Tỷ lệ rác thải được thu gom, cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được xử lý…)

(2): Gồm: 4 chỉ tiêu kinh tế (Cơ cấu kinh tế; GRDP bình quân đầu người; Tổng vốn đầu tư toàn xã hội; Tổng kim ngạch xuất khẩu), 1 chỉ tiêu xã hội (Chỉ tiêu về Nông thôn mới) và 1 chỉ tiêu môi trường (Tỷ lệ che phủ rừng).

(3): Gồm: 5 chỉ tiêu kinh tế (Huy động GRDP vào ngân sách; Tốc độ tăng năng suất lao động xã hội; Kim ngạch xuất khẩu; Chi đầu tư phát triển; GRDP bình quân đầu người), 7 chỉ tiêu xã hội (Tỷ lệ lao động qua đào tạo; Tỷ lệ trường học đạt chuẩn quốc gia; Tỷ lệ thất nghiệp; Chỉ tiêu Nông thôn mới; Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên; Chỉ tiêu về y tế; Tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế), 4 chỉ tiêu môi trường (Tỷ lệ sử dụng nước sạch vệ sinh; Tỷ lệ chất thải rắn ở đô thị được thu gom xử lý; Tỷ lệ khu công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường; Tỷ lệ che phủ rừng) và 1 chỉ tiêu khác (Tỷ lệ Xây dựng lực lượng dân quân, tự vệ).

(4): Gồm: 5 chỉ tiêu kinh tế (Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm; Thu hút tổng vốn đầu tư toàn xã hội so với GRDP; Tỷ lệ hộ nghèo; Cơ cấu GRDP; Thu nhập bình quân đầu người).

(5): Gồm: 1 chỉ tiêu kinh tế (Tổng vốn đầu tư toàn xã hội), 6 chỉ tiêu xã hội (Lao động và việc làm; Giảm nghèo; Y tế; Giáo dục; Văn hóa) và 1 chỉ tiêu môi trường (Tỷ lệ che phủ rừng).

(6): Gồm: 3 chỉ tiêu kinh tế, hạ tầng (Tăng trưởng kinh tế; Thu ngân sách; Kết cấu hạ tầng).

(7): Tăng trưởng bình quân 5 năm 2021 - 2025: Lâm Đồng tăng 6,57%, Bình Thuận tăng 6,20%, Đắk Nông tăng 6,86%. Năng suất lao động tăng trưởng khá, Lâm Đồng tăng 6,01%, Bình Thuận tăng 5,95%, Đắk Nông tăng 4,56%. GRDP bình quân đầu người đến năm 2025 tăng nhanh so với năm 2020, Lâm Đồng đạt 4.429 USD (tăng 1,79 lần); Bình Thuận đạt 4.484 USD (tăng 1,65 lần); Đắk Nông đạt 3.700 USD (tăng 1,96 lần).

(8): Tăng trưởng ngành nông, lâm, thủy sản bình quân 5 năm 2021 - 2025: Lâm Đồng tăng 5,12%/năm, Bình Thuận 3,24%/năm, Đắk Nông 6,39%/năm.

(9): Đến ngày 30/6/2025, toàn tỉnh có 230/259 xã nông thôn mới (đạt 88,8%).

(10): Tăng trưởng công nghiệp - xây dựng bình quân 5 năm 2021 - 2025: Lâm Đồng 6,93%/năm, Bình Thuận 7,26%/năm, Đắk Nông 11,65%/năm.

(11): Có 3 dự án năng lượng quy mô lớn (Nhà máy nhiệt điện BOT Sơn Mỹ I, Nhà máy nhiệt điện Sơn Mỹ II và Kho cảng khí LNG) với vốn đầu tư đăng ký 5,4 tỷ USD tại KCN Sơn Mỹ I… Nhà máy Alumin Bảo Lâm đạt 820.000 tấn/năm, Nhà máy Alumin Nhân cơ đạt công suất 650.000 tấn/năm; thu hút đầu tư, chuẩn bị hoạt động nhà máy luyện kim Nhôm Đắk Nông.

(12): Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết 59-NQ/TW, ngày 24/01/2025 về Hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết số 66-NQ/TW, ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân;…

(13): Tỷ lệ đô thị hóa bình quân giai đoạn 2021 - 2025 đạt 34,52%.

(14): Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, đã tổ chức triển khai, quản lý việc thực hiện 137 nhiệm vụ; trong đó Lâm Đồng 59 nhiệm vụ; Bình Thuận 39 nhiệm vụ; Đắk Nông 39 nhiệm vụ.

(15): Tim phổi nhân tạo, chụp mạch vành, cấy máy tạo nhịp vĩnh viễn, đặt máy tạo nhịp tạm thời, xạ trị áp suất liều cao, phẫu thuật ung thư, xạ trị bằng máy gia tốc…

(16): Đầu nhiệm kỳ đến nay: Lâm Đồng đã kết nạp được 5.278 đảng viên mới, tỷ lệ 105,56%; Bình Thuận: đã kết nạp được 10.168 đảng viên mới, đạt tỷ lệ 101,68%; Đắk Nông: đã kết nạp được 3.061 đảng viên, đạt tỷ lệ 95,5%.

(17): (1) Tổ chức cơ sở đảng được đánh giá, xếp loại từ hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên: Lâm Đồng 91,3 (kế hoạch 90% trở lên); Bình Thuận 88,16% (kế hoạch 90% trở lên); Đắk Nông 88,76% (kế hoạch 90% trở lên). (2) Đảng viên được đánh giá, xếp loại từ hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên: Lâm Đồng 95,8 (kế hoạch 90% trở lên); Bình Thuận 91,85% (kế hoạch 90% trở lên); Đắk Nông 95,13% (kế hoạch 90% trở lên).

(18): Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, các cấp ủy đã sàng lọc, đưa ra khỏi Đảng: Lâm Đồng 567 trường hợp; Bình Thuận: 510 trường hợp; Đắk Nông: 222 trường hợp.

(19): Lâm Đồng: Các cơ quan chức năng xử lý 41 vụ/71 trường hợp về tham nhũng, tiêu cực. Việc thu hồi tài sản tham nhũng có kết quả tích cực, trong đó thu hồi được 19.229.416.530 đồng/28.271.945.453 đồng, đạt tỷ lệ 68%.

Bình Thuận: Ban Chỉ đạo tỉnh theo dõi, chỉ đạo xử lý 18 vụ/45 người (6 vụ việc, 12 vụ án). Đến nay, đã xử lý xong 6 vụ/30 người; đang tiếp tục xử lý 12 vụ/15 người. Tổng số tài sản phải thu hồi 36.570,366 triệu đồng, 798.618 m2 đất; đã thu hồi 17.013,594 triệu đồng, 798.618 m2 đất (đạt 46,52% về tiền, 100% về đất).

Đắk Nông: Thanh tra tỉnh kiến nghị thu hồi nộp vào NSNN với số tiền trên 62 tỷ đồng; kiến nghị thu hồi về đất trên 24.000 m2; kiến nghị thu hồi 198 GCN QSDĐ; kiến nghị xử lý hành chính 399 tổ chức và 1.031 cá nhân; kiến nghị khởi tố, chuyển hồ sơ sang Cơ quan Cảnh sát điều tra 5 vụ việc, đề nghị tiếp tục điều tra, làm rõ sai phạm đối với 32 vụ việc. Các cơ quan tố tụng đã khởi tố, điều tra, xét xử đối với gần 100 vụ án tham nhũng, kinh tế, với tổng số gần 200 bị can, bị cáo,...

(20): (1) Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận trong kháng chiến chống Mỹ, (2) Nâng cấp, mở rộng đường ĐT.719 đoạn Kê Gà - Tân Thiện.

(21): Lâm Đồng 6 dự án; Bình Thuận 5 dự án, Đắk Nông 06 dự án.

(22): Lâm Đồng 8 dự án; Bình Thuận 4 dự án.

(23): Dự án Khu công nghiệp nông nghiệp Tân Phú, Dự án Khu du lịch hồ Prenn, Dự án xây dựng Khu đô thị Liên Khương - Prenn.

(24): Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 59-NQ/TW, ngày 24/01/2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết số 66-NQ/TW, ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân; Nghị quyết số 70-NQ/TW, ngày 20/8/2025 về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; Nghị quyết số 72-NQ/TW, ngày 09/9/2025 về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân;…

(25): Trục trung tâm (tập trung phát triển nông nghiệp công nghệ cao; công nghiệp chế biến nông, lâm sản; du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, hội nghị, hội thảo… chất lượng cao; trung tâm chuyển đổi số; giáo dục, đào tạo, khoa học - công nghệ); trục phía Đông (tập trung phát triển công nghiệp, logistics; kinh tế biển, năng lượng tái tạo, du lịch nghỉ dưỡng biển, thể thao biển, du lịch hội nghị hội thảo và chăm sóc sức khỏe - Mice and Wellness, du lịch nông nghiệp, sinh thái rừng - biển - đồi cát, du lịch cộng đồng). Trục phía Tây (tập trung phát triển công nghiệp năng lượng (điện gió); công nghiệp khai thác, chế biến alumin, luyện nhôm; du lịch sinh thái, khám phá; phát triển cây công nghiệp…).

(26): Dự án Đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam qua địa bàn tỉnh; hoàn thành các dự án Cao tốc Tân Phú - Bảo Lộc, Bảo Lộc - Liên Khương, Gia Nghĩa - Chơn Thành; triển khai các dự án Cao tốc Nha Trang - Đà Lạt, Cao tốc Phan Thiết - Gia Nghĩa; hoàn thành các dự án Cải tạo, nâng cấp QL27, QL28, QL55, QL27C, đường Trường Sơn Đông và các dự án đường tỉnh, đường liên kết vùng, đường ven biển, đường vành đai và đường tránh đô thị Đà Lạt, Bảo Lộc, Phan Thiết...; hoàn thành dự án Nâng cấp Cảng hàng không quốc tế Liên Khương, đưa vào khai thác Cảng hàng không Phan Thiết; xây dựng, nâng cấp cảng biển theo quy hoạch.

KT