Thương mại - Dịch vụ

Giá vàng chiều nay 10/11/2025: Giá vàng SJC, giá vàng nhẫn, bảng giá vàng hôm nay chi tiết

Văn Khoa 10/11/2025 14:41

Giá vàng SJC tăng mạnh lên 150,2 triệu đồng/lượng, vàng thế giới vượt 4.074 USD/ounce do kỳ vọng Fed hạ lãi suất giữa kinh tế Mỹ yếu và lo suy thoái.

Giá vàng SJC tiếp tục có thêm đợt tăng mới, lên mức 150,2 triệu đồng/lượng

Đến 14h30 hôm nay, giá vàng miếng SJC trên thị trường trong nước tiếp tục đà tăng mạnh hơn so với buổi sáng. Tại Tập đoàn DOJI, giá mua vào tăng thêm 1,8 triệu đồng lên mức 148,2 triệu đồng/lượng. Giá bán ra cũng có mức tăng tương tự, nâng lên mức 150,2 triệu đồng/lượng so với phiên liền trước.

bieu-do-duoc-tinh-den-luc-14h30-ngay-10-11-2025-trieu-dong-luong-(1).jpeg

Tương tự, hệ thống Bảo Tín Minh Châu ghi nhận cũng tăng 1,8 triệu đồng/lượng lên mức giá 148,7 triệu đồng/lượng cho chiều mua vào. Và tăng 1,8 triệu đồng/lượng lên mức 150,2 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra.

Còn tại Tập đoàn Phú Quý, giá mua vào đồng loạt tăng 1,8 triệu đồng lên mức giá 147,2 triệu đồng/lượng, giá bán ra tăng lên mức 150,2 triệu đồng/lượng, chênh lệch 1,8 triệu đồng so với hôm qua.

Giá vàng nhẫn 9999 cùng chung xu thế tăng mạnh

Ngược lại với vàng miếng, vàng nhẫn 9999 trong nước có xu hướng tăng nhẹ. Vào thời điểm 14h30 ngày 10/11/2025, vàng nhẫn Hưng Thịnh Vượng 9999 của DOJI được niêm yết ở mức 146,0 triệu đồng/lượng (mua vào) và 149,0 triệu đồng/lượng (bán ra), tăng 1,8 triệu đồng ở cả hai chiều so với ngày trước đó, chênh lệch giữa mua – bán là 3 triệu đồng/lượng.

Tại Bảo Tín Minh Châu, giá vàng nhẫn ghi nhận ở mức 147,5 triệu đồng/lượng (mua) và 150,5 triệu đồng/lượng (bán), tăng tới 1,7 triệu đồng so với đầu giờ sáng, biên độ chênh lệch duy trì ở mức 3 triệu đồng/lượng.

Trong khi đó, Tập đoàn Phú Quý cũng công bố mức giá 147,2 triệu đồng/lượng (mua) và 150,2 triệu đồng/lượng (bán), tăng 1,8 triệu đồng so với phiên trước, giữ nguyên chênh lệch 3 triệu đồng/lượng giữa hai chiều.

Bảng giá vàng hôm nay 10/11/2025 chi tiết

Giá vàng hôm nayNgày 10/11/2025
(Triệu đồng)
Chênh lệch
(nghìn đồng/lượng)
Mua vàoBán raMua vàoBán ra
SJC148,2150,2+1800+1800
Tập đoàn DOJI148,2150,2+1800+1800
Mi Hồng148,8150,2+2600+1200
PNJ148,2150,2+1800+1800
ACB150,2+1800
Bảo Tín Minh Châu148,7150,2+1800+1800
Phú Quý147,2150,2+1800+1800
1. DOJI - Cập nhật: 10/11/2025 14:30 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua.
Loại Mua vào Bán ra
AVPL/SJC HN148.200
▲1800K
150.200
▲1800K
AVPL/SJC HCM148.200
▲1800K
150.200
▲1800K
AVPL/SJC ĐN148.200
▲1800K
150.200
▲1800K
Nguyên liệu 9999 - HN141.500
▲2700K
143.500
▲2700K
Nguyên liệu 999 - HN141.300
▲2700K
143.300
▲2700K
2. PNJ - Cập nhật: 10/11/2025 14:30 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua.
Khu vực Mua vào Bán ra
TPHCM - PNJ148.200
▲1800K
150.200
▲1800K
Hà Nội - PNJ148.200
▲1800K
150.200
▲1800K
Đà Nẵng - PNJ148.200
▲1800K
150.200
▲1800K
Miền Tây - PNJ148.200
▲1800K
150.200
▲1800K
Tây Nguyên - PNJ148.200
▲1800K
150.200
▲1800K
Đông Nam Bộ - PNJ148.200
▲1800K
150.200
▲1800K
3. AJC - Cập nhật: 10/11/2025 14:30 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua.
Loại Mua vào Bán ra
Miếng SJC Hà Nội14,760
▲120K
14,960
▲120K
Miếng SJC Nghệ An14,760
▲120K
14,960
▲120K
Miếng SJC Thái Bình14,760
▲120K
14,960
▲120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội14,660
▲120K
14,960
▲120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An14,660
▲120K
14,960
▲120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình14,660
▲120K
14,960
▲120K
NL 99.9913,990
▲120K
-
Nhẫn tròn ko ép vỉ T.Bình13,990
▲120K
-
Trang sức 99.914,250
▲120K
14,850
▲120K
Trang sức 99.9914,260
▲120K
14,860
▲120K
4. SJC - Cập nhật: 10/11/2025 14:30 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua.
Loại Mua vào Bán ra
Vàng SJC 1L, 10L, 1KG148.200
▲1800K
150.200
▲1800K
Vàng SJC 5 chỉ148.200
▲1800K
150.220
▲1800K
Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ148.200
▲1800K
150.230
▲1800K
Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ145.300
▲2000K
147.800
▲2000K
Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ145.300
▲2000K
147.900
▲2000K
Nữ trang 99,99%143.800
▲2000K
146.800
▲2000K
Nữ trang 99%140.846
▲1980K
145.346
▲1980K
Nữ trang 68%92.483
▲1360K
99.983
▲1360K
Nữ trang 41,7%53.871
▲834K
61.371
▲834K

Giá vàng thế giới tăng mạnh, bỏ xa đỉnh giá 4.000 USD/Ounce

Tính đến 14h30, giá vàng thế giới được niêm yết ở mức 4.074,8 USD/ounce, tăng 75,2 USD so với phiên trước.

Giá vàng thế giới tăng mạnh, bỏ xa đỉnh giá 4.000 USD Ounce

Giá vàng toàn cầu bật tăng mạnh trong phiên giao dịch đầu tuần, khi các nhà đầu tư đặt cược vào khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) có thể hạ lãi suất vào tháng 12, giữa bối cảnh dữ liệu kinh tế Mỹ yếu đi và nỗi lo suy thoái toàn cầu gia tăng.

Đầu chiều ngày 10/11 (theo giờ Việt Nam), giá vàng giao ngay tăng 1,8%, đạt 4.070,99 USD/ounce vào lúc 06h43 GMT, mức cao nhất kể từ ngày 27/10. Hợp đồng vàng tương lai tháng 12 trên sàn Mỹ cũng tăng 1,8%, lên 4.079,70 USD/ounce.

Theo ông Tim Waterer, chuyên gia phân tích thị trường trưởng tại KCM Trade, dòng tiền đổ vào vàng đang tăng rõ rệt khi giới đầu tư kỳ vọng Fed vẫn có thể cắt giảm lãi suất trong tháng 12, dù cơ quan này gần đây tỏ ra thận trọng về khả năng đó.

“Thị trường vàng đang có sự khởi đầu tuần tích cực khi nhà đầu tư tìm kiếm tài sản trú ẩn trong bối cảnh nhiều tín hiệu suy yếu từ nền kinh tế Mỹ,” ông Waterer nhận định.

Báo cáo việc làm tháng 10 cho thấy kinh tế Mỹ mất việc làm trong các lĩnh vực chính phủ và bán lẻ. Việc doanh nghiệp cắt giảm chi phí và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) đã khiến số lượng sa thải được công bố tăng mạnh.

Song song đó, niềm tin người tiêu dùng Mỹ giảm xuống mức thấp nhất trong gần 3 năm rưỡi trong tháng 11, do lo ngại tác động của đợt đóng cửa chính phủ kéo dài 40 ngày – một trong những đợt dài nhất trong lịch sử.

Theo công cụ CME FedWatch, thị trường hiện đánh giá có tới 67% khả năng Fed sẽ giảm lãi suất trong tháng 12. Trong môi trường lãi suất thấp và kinh tế bất ổn, vàng – tài sản không sinh lợi suất – thường được hưởng lợi.

Ngày 9/11, Thượng viện Mỹ dường như sắp thông qua dự luật mở cửa lại chính phủ, chấm dứt tình trạng tê liệt kéo dài hơn một tháng, khiến hàng nghìn nhân viên liên bang phải nghỉ việc tạm thời và các dịch vụ công thiết yếu bị gián đoạn.

“Việc chính phủ có thể sớm hoạt động trở lại sẽ giúp thị trường có thêm dữ liệu kinh tế quan trọng, vốn đã bị gián đoạn trong thời gian đóng cửa,” ông Waterer cho biết thêm.

Cùng với vàng, giá bạc giao ngay tăng 2,5% lên 49,52 USD/ounce; bạch kim tăng 1,3% lên 1.565,22 USD/ounce, trong khi palladium nhích 1,1% lên 1.396,37 USD/ounce.

Quỹ tín thác vàng lớn nhất thế giới SPDR Gold Trust ghi nhận lượng nắm giữ tăng nhẹ 0,16%, đạt 1.042,06 tấn vào ngày 8/11, so với 1.040,35 tấn của phiên liền trước – cho thấy dòng vốn đầu tư vào vàng vẫn duy trì ổn định.

Diễn biến giá vàng trong những tuần tới sẽ phụ thuộc lớn vào dữ liệu kinh tế Mỹ và tín hiệu chính sách từ Fed. Trong bối cảnh bất ổn kinh tế và rủi ro địa chính trị tiếp tục bao trùm, kim loại quý này vẫn được xem là lựa chọn an toàn hàng đầu của giới đầu tư toàn cầu.

Văn Khoa