YS-1, ALPAY và UUV S6: thông số và cách triển khai
Trung Quốc công bố UAV tàng hình YS-1 với RCS 0,01 m², tầm 500 km; Thổ Nhĩ Kỳ ra mắt ALPAY mở hành lang 10 m x 100 m; Mỹ–Hàn phát triển UUV S6 giá 75.000 USD.
Ba phát triển đáng chú ý trong lĩnh vực vũ khí không người lái và công binh: Trung Quốc giới thiệu UAV tàng hình tốc độ cao YS-1; Thổ Nhĩ Kỳ trình làng hệ thống phá gỡ mìn ALPAY dùng dây nổ C4; và Hanwha – Vatn Systems hợp tác cung cấp đội hình drone dưới nước giá thấp Skelmir S6 cho Hải quân Mỹ. Các hệ thống này nhắm đến yêu cầu tăng tốc triển khai, chi phí hợp lý và tối ưu hóa chiến thuật mới trên chiến trường.
UAV tàng hình tốc độ cao YS-1 của Trung Quốc
Theo kênh China3Army, YS-1 (Yangxian-1) do Shenyang Aircraft Corporation phát triển, hướng tới nhiệm vụ trinh sát, tấn công chính xác, tác chiến điện tử và đánh lừa radar. Mẫu UAV chiến thuật này được thiết kế để hoạt động trong không phận có phòng thủ dày đặc, bổ sung cho hệ sinh thái UAV đang mở rộng của Trung Quốc.
Thông số kỹ thuật đã công bố
- Tốc độ hành trình: khoảng 550 - 1.000km/h (tùy độ cao).
- Kích thước: dài khoảng 4,5 mét; sải cánh 2 mét.
- Trọng lượng cất cánh tối đa: khoảng 260kg.
- Trần bay: 5.000 - 10.000 mét.
- Tầm hoạt động: 500km; thời gian bay khoảng 1 giờ.
- Diện tích phản xạ radar (RCS): 0,01m².
- Tải trọng: khoảng 30kg (đầu đạn nhỏ, radar khẩu độ hẹp, cảm biến quang-điện, thiết bị gây nhiễu hoặc mồi bẫy điện tử).
Triển khai và điều khiển
- Phóng từ bệ ray hoặc máy phóng, không cần đường băng; có thể gắn mô-đun thu hồi bằng dù.
- Dẫn đường: tích hợp Beidou, GPS và dẫn đường quán tính để duy trì độ chính xác trong môi trường bị gây nhiễu.
- Lập trình hành trình 3D tới tối đa 255 điểm; tự động điều chỉnh độ cao, tốc độ và có các thao tác lượn né, đổi độ cao nhanh, vòng lượn hẹp khi tiếp cận mục tiêu.
Sự xuất hiện của YS-1 cho thấy chuỗi sản xuất UAV tại Trung Quốc tiếp tục kết nối chặt chẽ giữa khung thân, động cơ, cảm biến và vũ khí, cho phép rút ngắn thời gian lắp ráp và mở rộng số lượng nền tảng tác chiến không người lái.
ALPAY: hệ thống phá gỡ mìn bằng dây nổ của Thổ Nhĩ Kỳ
MKE giới thiệu ALPAY như một mô-đun dây nổ đẩy tên lửa để mở cửa đột phá qua bãi mìn dày đặc. Trong bối cảnh chiến sự tại Ukraine, Trung Đông và châu Phi khiến chiến tranh mìn tăng cường độ, ALPAY hướng tới giải pháp linh hoạt và chi phí phù hợp.
Thông số và vận hành
- Dây nổ chứa 400kg C4; mở hành lang 10m x 100m; tỷ lệ phá gỡ tuyên bố đạt 99%.
- Tên lửa phóng dây nổ vươn đến khoảng 200m trước bệ phóng.
- Thiết kế dạng rơ-moóc, có thể kéo bởi xe bọc thép, xe tăng hoặc xe tải quân sự.
- Hai binh sĩ chuẩn bị trong khoảng 15 phút; hoạt động mọi thời tiết.
- Ứng dụng với mìn chống tăng và chống bộ binh; đã được sử dụng tại một số khu vực tác chiến của Thổ Nhĩ Kỳ.
Vị trí so với các hệ thống tương đương
ALPAY được mô tả là giải pháp ở “khoảng giữa” khi so với các hệ thống lớn như M1150 ABV của Mỹ hay UR-77 Meteorit của Nga: hiệu quả mở cửa đột phá tương đương nhưng chi phí và yêu cầu hậu cần thấp hơn, thuận lợi cho tích hợp trên nhiều nền tảng kéo và chào bán quốc tế.
Mỹ – Hàn phát triển đội hình drone dưới nước giá thấp Skelmir S6
Theo Reuters, Hanwha (Hàn Quốc) và Vatn Systems (Mỹ) ký thỏa thuận phát triển drone dưới nước tự hành chi phí thấp cho Hải quân Mỹ, sau khi Hanwha tham gia vòng gọi vốn 60 triệu USD của Vatn Systems. Mục tiêu là nhanh chóng tăng số lượng phương tiện không người lái dưới biển trước bối cảnh hải quân Trung Quốc mở rộng ở Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.
Cấu hình và chiến thuật
- Mẫu Skelmir S6: mô-đun cỡ nhỏ, nặng 22 - 25kg; đường kính 15cm; mang 4,5 - 9kg tải tác chiến.
- Tốc độ tối đa 20 hải lý/giờ (37 km/h); lặn sâu 100 mét.
- Tối ưu cho chiến thuật bầy đàn: một người có thể theo dõi hàng trăm thiết bị qua giao diện Android TAC.
- Phóng từ tàu ngầm, tàu mặt nước, xuồng nhỏ, bờ biển hoặc từ máy bay.
- Tải trọng linh hoạt: đầu nổ, cảm biến, thiết bị gây nhiễu hoặc mô-đun tác chiến mạng.
- Chi phí khoảng 75.000 USD/chiếc, cho phép triển khai số lượng lớn để phong tỏa tuyến hẹp, phục kích dưới nước hoặc truy tìm tàu ngầm bằng cảm biến tiêu hao.
Năng lực sản xuất
Hanwha đảm nhiệm mở rộng sản xuất, dựa trên kinh nghiệm về tàu ngầm, thiết bị rà phá thủy lôi, nền tảng không người lái biển và sở hữu một cơ sở đóng tàu tại Mỹ (Philly Shipyard), nhằm đưa S6 vào trang bị quy mô lớn.
Bảng tóm tắt thông số chính
| Hệ thống | Phân loại | Thông số nổi bật |
|---|---|---|
| YS-1 (Yangxian-1) | UAV tàng hình tốc độ cao | Tốc độ 550 - 1.000km/h; tầm 500km; trần 5.000 - 10.000m; RCS 0,01m²; tải 30kg |
| ALPAY | Hệ thống phá gỡ mìn dây nổ | 400kg C4; mở 10m x 100m; tầm phóng dây 200m; chuẩn bị ~15 phút; tỷ lệ phá gỡ tuyên bố 99% |
| Skelmir S6 | Drone dưới nước tự hành | 22 - 25kg; Ø 15cm; tải 4,5 - 9kg; 20 kn (37 km/h); sâu 100m; khoảng 75.000 USD |
Tác động và ứng dụng
- YS-1 bổ sung lớp UAV chiến thuật có thể xâm nhập không phận phòng thủ dày đặc, hỗ trợ trinh sát, gây nhiễu và mồi bẫy radar.
- ALPAY cung cấp phương án mở cửa đột phá nhanh, linh hoạt nhờ cấu hình rơ-moóc, phù hợp tác chiến cường độ cao và nhiệm vụ bảo vệ biên giới.
- Skelmir S6 nhấn mạnh phương thức “lấy số lượng bù chi phí”, giúp triển khai bầy đàn dưới nước với chi phí thấp và linh hoạt nền tảng phóng.