Giá vàng chiều nay 12/12/2025: Giá vàng SJC, giá vàng nhẫn, bảng giá vàng hôm nay chi tiết
Giá vàng miếng SJC chốt ngày 12/12 ở đỉnh kỷ lục mới 155,6 triệu đồng/lượng, tăng mạnh hơn 1 triệu đồng. Vàng thế giới cũng neo cao gần 4.317 USD/ounce.
Giá vàng miếng SJC chốt phiên đầu thứ Sáu ngày 12/12 ở đỉnh kỷ lục mới 155,6 triệu đồng/lượng
Tính đến 17h00 ngày 12/12/2025, giá vàng SJC giữ vững đà tăng mạnh hơn triệu đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra, làm nên đỉnh kỷ lục mới 155,6 triệu đồng/lượng. Ở tất cả các thương hiệu lớn đồng loạt điều chỉnh giá mua bán tăng từ 900 đến 1 triệu đồng/lượng. Cụ thể:
Giá vàng miếng SJC cuối ngày hôm nay 12/12 chốt giá mua vào ở mức 153,6 triệu đồng, cao hơn cuối phiên trước 1,1 triệu đồng/lượng. Giá bán ra chốt ở mức 155,6 triệu đồng/lượng, cũng cao hơn cuối phiên trước 1,1 triệu đồng.

Tập đoàn DOJI giữ vững đà tăng mạnh cuối phiên chiều nay, giá vàng chiều mua vào tăng thêm 1,1 triệu đồng, lên mức 152,6 triệu đồng/lượng. Giá vàng chiều bán ra cũng tăng thêm 1,1 triệu đồng, lên mức 155,6 triệu đồng/lượng.
Hệ thống Mi Hồng ghi nhận giá mua vào cao nhất cuối ngày hôm nay 12/12, giá mua vào tăng thêm 900 nghìn đồng lên mức 154,2 triệu đồng/lượng. Giá bán ra tăng thêm 1,1 triệu đồng lên mức 155,6 triệu đồng/lượng.
Tại PNJ, giá vàng giữ vững đà tăng 1,1 triệu ở cả 2 chiều mua vào và bán ra trong phiên cuối ngày hôm nay 12/12. Hiện giá mua vàng tăng lên 153,6 triệu đồng/lượng, giá bán ra tăng lên 155,6 triệu đồng/lượng.
Giá vàng miếng SJC ở Bảo Tín Minh Châu cũng niêm yết giá vàng chiều mua vào ở mức 153,6 triệu đồng/lượng, giá vàng chiều bán ra ở mức 155,6 triệu đồng/lượng. Cả 2 chiều mua vào và bán ra đều tăng thêm 1,1 triệu đồng/lượng.
Cuối cùng, giá vàng miếng SJC tại hệ thống Phú Quý cuối phiên hôm nay 12/12 niêm yết giá vàng mua vào chốt phiên ở mức 152,6 triệu đồng/lượng, giá vàng chiều bán ra chốt phiên ở mức 155,6 triệu đồng/lượng. Cả 2 chiều ghi nhận cao hơn hôm qua 1,1 triệu đồng.
| Giá vàng hôm nay | Ngày 12/12/2025 (Triệu đồng) | Chênh lệch (nghìn đồng/lượng) | ||
| Mua vào | Bán ra | Mua vào | Bán ra | |
| SJC | 153,6 | 155,6 | +1100 | +1100 |
| Tập đoàn DOJI | 153,6 | 155,6 | +1100 | +1100 |
| Mi Hồng | 154,2 | 155,6 | +900 | +1100 |
| PNJ | 153,6 | 155,6 | +1100 | +1100 |
| Bảo Tín Minh Châu | 153,6 | 155,6 | +1100 | +1100 |
| Phú Quý | 152,6 | 155,6 | +1100 | +1100 |
Giá vàng nhẫn 9999 đồng loạt tăng nhẹ lên mức giá mới
Cùng thời điểm lúc 17h00, giá vàng nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng của DOJI được niêm yết ở mức 150,6 triệu đồng/lượng (mua) và 153,6 triệu đồng/lượng (bán), ghi nhận tăng 1,1 triệu đồng ở cả 2 chiều mua và bán so với ngày hôm qua, với mức chênh lệch 3 triệu đồng/lượng.
Bảo Tín Minh Châu giữ giá vàng nhẫn có mức giá mua vào là 151,8 triệu đồng/lượng, giá bán ra ở 154,8 triệu đồng/lượng, đồng loạt tăng thêm 800 nghìn đồng/lượng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra so với phiên trước, chênh lệch giữa hai chiều mua – bán tiếp tục ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Tập đoàn Phú Quý cũng niêm yết giá vàng nhẫn ở mức 150,8 triệu đồng/lượng (mua) và 153,8 triệu đồng/lượng (bán), tăng thêm 600 nghìn đồng/lượng ở cả 2 chiều mua và bán so với ngày hôm qua, chênh lệch mua – bán ổn định ở mức 3 triệu đồng/lượng.
| 1. DOJI - Cập nhật: 12/12/2025 17:00 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
| Loại | Mua vào | Bán ra |
|---|---|---|
| AVPL/SJC HN | 153.600 ▲1100K | 155.600 ▲1100K |
| AVPL/SJC HCM | 153.600 ▲1100K | 155.600 ▲1100K |
| AVPL/SJC ĐN | 153.600 ▲1100K | 155.600 ▲1100K |
| 2. PNJ - Cập nhật: 12/12/2025 17:00 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
| Khu vực | Mua vào | Bán ra |
|---|---|---|
| TPHCM - PNJ | 153.600 ▲1100K | 155.600 ▲1100K |
| Hà Nội - PNJ | 153.600 ▲1100K | 155.600 ▲1100K |
| Đà Nẵng - PNJ | 153.600 ▲1100K | 155.600 ▲1100K |
| Miền Tây - PNJ | 153.600 ▲1100K | 155.600 ▲1100K |
| Tây Nguyên - PNJ | 153.600 ▲1100K | 155.600 ▲1100K |
| Đông Nam Bộ - PNJ | 153.600 ▲1100K | 155.600 ▲1100K |
| 3. AJC - Cập nhật: 12/12/2025 17:00 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
| Loại | Mua vào | Bán ra |
|---|---|---|
| Miếng SJC Hà Nội | 15,360 ▲110K | 15,560 ▲110K |
| Miếng SJC Nghệ An | 15,360 ▲110K | 15,560 ▲110K |
| Miếng SJC Thái Bình | 15,360 ▲110K | 15,560 ▲110K |
| N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội | 15,120 ▲50K | 15,420 ▲50K |
| N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An | 15,120 ▲50K | 15,420 ▲50K |
| N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình | 15,120 ▲50K | 15,420 ▲50K |
| NL 99.99 | 14,170 ▲20K | - |
| Nhẫn tròn ko ép vỉ T.Bình | 14,170 ▲20K | - |
| Trang sức 99.9 | 14,710 ▲50K | 15,310 ▲50K |
| Trang sức 99.99 | 14,720 ▲50K | 15,320 ▲50K |
| 4. SJC - Cập nhật: 12/12/2025 17:00 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
| Loại | Mua vào | Bán ra |
|---|---|---|
| Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 153.600 ▲1100K | 155.600 ▲1100K |
| Vàng SJC 5 chỉ | 153.600 ▲1100K | 155.620 ▲1100K |
| Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ | 153.600 ▲1100K | 155.630 ▲1100K |
| Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ | 150.500 ▲900K | 153.000 ▲900K |
| Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ | 150.500 ▲900K | 153.100 ▲900K |
| Nữ trang 99,99% | 148.500 ▲400K | 151.500 ▲400K |
| Nữ trang 99% | 145.000 ▲396K | 150.000 ▲396K |
| Nữ trang 68% | 95.180 ▼227K | 103.180 ▲272K |
| Nữ trang 41,7% | 55.331 ▼333K | 63.331 ▲166K |
Giá vàng thế giới neo gần đỉnh bảy tuần, thị trường kỳ vọng chu kỳ giảm lãi suất rõ ràng hơn
Tính đến 17h00 ngày 12/12/2025 (giờ Việt Nam), giá vàng thế giới giao ngay mức 4.317,0 USD/ounce. Ghi nhận đã tăng mạnh 37,9 USD/ounce ở ngày hôm qua. Quy đổi theo tỷ giá USD tại ngân hàng Vietcombank (26.405 VND/USD), vàng thế giới có giá khoảng 135,9 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí). So sánh với giá vàng miếng SJC trong nước cùng ngày (153,6-155,6 triệu đồng/lượng), giá vàng SJC hiện cao hơn giá vàng quốc tế khoảng 18,2 triệu.

Giá vàng quốc tế duy trì xu hướng tích cực trong phiên cuối tuần, được nâng đỡ bởi kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ tiếp tục nới lỏng chính sách trong năm tới sau khi cơ quan này bác bỏ quan điểm diều hâu đang lan rộng trên thị trường. Bên cạnh đó, bạc giao ngay lặng lẽ xoay quanh mức đỉnh lịch sử vừa lập ngày hôm qua.
Đến 07:08 GMT, giá vàng giao ngay tăng nhẹ 0,1%, đạt 4.286,35 USD/ounce, đồng thời hướng tới mức tăng 2,1% trong tuần sau khi chạm đỉnh kể từ 21/10 vào phiên trước đó. Hợp đồng vàng tương lai tại Mỹ cũng nhích 0,1%, lên 4.317,50 USD/ounce.
Đồng USD tiếp tục suy yếu tuần thứ ba liên tiếp, tạo lợi thế cho kim loại quý khi trở nên hấp dẫn hơn với nhà đầu tư quốc tế.
Theo chuyên gia Soni Kumari của ANZ, thị trường đang phản ánh khả năng có hai đợt giảm lãi suất trong năm tới, bất chấp biểu đồ dot plot mới nhất chỉ cho thấy một lần điều chỉnh. Bối cảnh này càng củng cố tâm lý tích cực đối với vàng.
Fed vừa thực hiện lần cắt giảm 25 điểm cơ bản thứ ba trong năm, với quyết định mang tính phân hóa. Những chia sẻ sau cuộc họp của Chủ tịch Jerome Powell được giới đầu tư đánh giá là kém cứng rắn hơn, dù các quan chức vẫn nhấn mạnh sẽ cần thêm bằng chứng về lạm phát hạ nhiệt và thị trường lao động dịu lại trước khi hành động mạnh tay hơn.
Số đơn xin trợ cấp thất nghiệp của Mỹ tuần qua tăng mạnh nhất trong hơn bốn năm rưỡi, dù mức tăng này chưa đủ để được xem như dấu hiệu suy yếu đáng kể của thị trường việc làm.
Vàng — vốn không tạo ra lợi suất — thường được ưa chuộng khi lãi suất thấp. Bởi vậy, báo cáo việc làm phi nông nghiệp Mỹ công bố vào tuần tới đang được kỳ vọng sẽ định hình rõ nét hơn lộ trình chính sách của Fed.
Trong khi vàng đi lên chậm rãi, bạc tiếp tục nổi bật. Giá bạc giao ngay tăng thêm 0,2%, đạt 63,67 USD/ounce sau khi thiết lập kỷ lục 64,31 USD vào ngày thứ Năm; mức tăng tuần dự kiến lên tới 9,3%. Tính từ đầu năm, giá bạc đã hơn gấp đôi do nhu cầu công nghiệp mạnh, lượng tồn kho suy giảm và việc kim loại này được đưa vào danh sách khoáng sản quan trọng của Mỹ.
Ông Ajay Kedia, Giám đốc Kedia Commodities (Mumbai), cho biết dòng vốn ETF, tình trạng khan hiếm nguồn cung vật chất và triển vọng Fed giảm lãi suất đang tạo thế hỗ trợ mạnh cho bạc. Về mặt kỹ thuật, mô hình “đáy tròn” đang hình thành có thể mở ra cơ hội hướng tới vùng giá 75 USD/ounce.
Các kim loại quý khác có diễn biến trái chiều: bạch kim giảm nhẹ 0,1% xuống 1.694,30 USD, trong khi palladium tăng 1,7% lên 1.508,60 USD; cả hai vẫn đang hướng tới một tuần tăng giá.