Kỳ 4: Giữ ranh giới để biển còn xanh
Sau những chuyến biển trắng tay, những lần trả giá vì vượt ranh giới, những nỗ lực siết lại kỷ cương, một câu hỏi lớn dần hiện ra: giữ ranh giới để làm gì?

.jpg)
Sau những chuyến biển trắng tay, những lần trả giá vì vượt ranh giới, những nỗ lực siết lại kỷ cương, một câu hỏi lớn dần hiện ra: giữ ranh giới để làm gì?
.jpg)
Khi biển không còn vô tận như người ta từng nghĩ và thị trường không còn chấp nhận những gì không minh bạch, việc giữ ranh giới trong quá trình khai thác là cách làm duy nhất để ngư dân đời nay bám biển lâu dài và để dành cho con cháu đời sau.

Lâm Đồng có bờ biển dài 192 km, vùng nội thủy trên 20.200 km², liên thông với vùng Đông Nam Bộ và khu vực Trường Sa. Nguồn lợi thủy sản phong phú, đa dạng, từng là lợi thế lớn để phát triển kinh tế biển.

Nhưng đi cùng lợi thế là áp lực khai thác ngày càng lớn. Khi biển bị khai thác vượt ngưỡng, câu chuyện không chỉ là sản lượng giảm, mà là sự mất cân bằng của cả một hệ sinh thái.

Từ thực tế đó, tỉnh đang chuyển hướng mạnh sang bảo tồn, tái tạo nguồn lợi thủy sản; phát triển nuôi trồng trên biển; mở rộng các mô hình đồng quản lý; gắn khai thác với du lịch sinh thái và sinh kế bền vững cho ngư dân ven biển.
Không còn tư duy “khai thác càng nhiều càng tốt”, mà chuyển sang “khai thác trong giới hạn để còn khai thác lâu dài”.
Ở vùng biển xã Tân Thành (tỉnh Lâm Đồng), câu chuyện về những mùa biển “đói” từng làm hàng trăm ngư dân nơi đây bỏ biển lên bờ. Ông Nguyễn Nùng, hơn 30 năm bám biển, vẫn nhớ những mùa biển trống rỗng: “Có lúc đi cả ngày không được con cá nào. Biển bị khai thác tận diệt trong thời gian dài, nên thanh niên bỏ biển lên bờ ngày càng nhiều. Biển không hết cá ngay lập tức, nhưng qua từng mùa, từng chuyến đi, nguồn lợi cứ mỏng dần”.
.jpg)
Nguyên nhân không khó để nhận ra: khai thác tận thu, lưới kéo sát đáy, giã cào bay, đánh bắt cả mùa sinh sản… tất cả diễn ra như một vòng lặp quen thuộc của mưu sinh. Đến một lúc, biển không còn im lặng trong một ngày, mà im lặng kéo dài. Đó là lúc con người buộc phải tự hỏi: nếu cứ tiếp tục khai thác tận diệt, nguồn lợi gì còn lại cho ngày mai?

Năm 2015, một bước ngoặt được hình thành tại đây: mô hình Đồng quản lý nguồn lợi thủy sản ra đời, như phao cứu sinh cho làng chài ven biển Tân Thành. Không phải cấm khai thác. Mà là tổ chức lại cách khai thác. Một phần biển được khoanh lại để phục hồi. Một phần biển tiếp tục khai thác có kiểm soát.
Những nghề gây hại dần bị loại bỏ. Những vùng sinh sản được giữ lại. Hơn 60 cụm rạn nhân tạo được thả xuống đáy biển, tạo nơi cư trú cho các loài thủy sản sinh sôi.
Thành công lớn nhất của dự án là đã xây dựng và vận hành được 3 tổ chức cộng đồng ngư dân tham gia đồng quản lý trong bảo vệ nguồn lợi thủy sản theo Luật Thủy sản 2017. Bên cạnh đó, dự án đã khôi phục được bãi sinh sản của nguồn lợi sò lông; các hệ sinh thái đặc thù như rạn đá ngầm, san hô mềm, các loài thủy sản sống rạn tại Hòn Lan, Mũi Ngựa, Đá Nhảy, Suối Nhum... được bảo vệ và phát triển ổn định.

Ông Nguyễn Nùng tự hào khoe: “Nếu như những ngày đầu chỉ vài hộ tham gia, thì đến nay, số lượng hội viên tham gia mô hình của toàn xã Tân Thành đã tăng lên 300 hộ”. Nghĩa là người dân địa phương đã ý thức rõ việc khoanh nuôi hải sản để tạo lằn ranh giữa khai thác và bảo tồn, chỉ có như vậy, nguồn lợi hải sản mới còn cho thế hệ mai sau.

Sau nhiều năm triển khai, những thay đổi bắt đầu hiện rõ. Ngoài mực, cá thông thường, nhiều loài “biệt tăm” gần chục năm nay mới có lại như: cá ngân, vẹm, dòm nâu, đặc biệt tôm hùm, tôm bạc có giá trị kinh tế cao đã xuất hiện trở lại…”. Ghe, thúng hoạt động dày hơn.

Mỗi ngư dân kiếm vài triệu đồng mỗi ngày. Bỗng dưng câu chuyện ngư dân vùng biển Tân Thành được mùa tôm, cá lan rộng cả tỉnh như một minh chứng cho sự kiên trì, đồng lòng của bà con khi thực hiện mô hình đồng quản lý tại đây. Những cụm rạn nhân tạo không chỉ là khối đá vô tri dưới đáy biển, mà trở thành nơi “neo” lại sự sống và những thanh niên từng bỏ biển nay đã trở về bám biển làm giàu.

.png)
Nếu ranh giới trên biển là để giữ lại nguồn lợi tự nhiên, thì ranh giới thứ hai đang định hình ngành thủy sản lại nằm ở thị trường - nơi mọi thứ không thể nói bằng cảm tính, mà phải chứng minh bằng dữ liệu.



.jpg)
Hiện toàn tỉnh đã xây dựng 48 chuỗi liên kết thủy sản, với sản lượng kiểm soát gần 60.000 tấn nguyên liệu mỗi năm, tập trung vào cá thu, mực, nước mắm, hải sản đông lạnh và thủy sản khô. Năm 2024, kim ngạch xuất khẩu đạt trên 225 triệu USD, dự kiến năm 2025 khoảng 250 triệu USD.

Nhưng theo doanh nghiệp, tăng trưởng chỉ có ý nghĩa khi đi kèm một điều kiện: nguồn nguyên liệu phải hợp pháp và truy xuất được. Tại Công ty TNHH Hải Nam, chị Trần Thị Nga, Phó Phòng Quản lý chất lượng cho biết: “Không phải cứ có cá là sản xuất được. Cá phải có nguồn gốc rõ ràng, có hành trình khai thác, có hồ sơ truy xuất”.

Doanh nghiệp hiện phải lựa chọn nguồn thu mua gắn với tàu cá hợp pháp, có VMS và nhật ký khai thác đầy đủ. Việc tham gia chuỗi liên kết không còn là xu hướng, mà là điều kiện để tồn tại trong xuất khẩu. Hiện công ty Hải Nam tham gia các chuỗi liên kết sản xuất - thu mua - chế biến, giúp ổn định nguồn nguyên liệu và chuẩn hóa truy xuất. Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất vẫn nằm ở đầu chuỗi. “Nhận thức của ngư dân về IUU chưa đồng đều, thói quen khai thác cũ vẫn còn”, chị Nga nói.

Ở góc độ quản lý, bà Nguyễn Thùy Quý Tú, Chi cục trưởng Chi cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường tỉnh Lâm Đồng cho biết, ngành thủy sản đang chịu nhiều áp lực quốc tế.
.jpg)
Việt Nam hiện vẫn chưa gỡ “thẻ vàng” IUU của EU. Bên cạnh đó, từ năm 2026, thị trường Mỹ dự kiến cấm nhập khẩu một số sản phẩm thủy sản từ các nghề cá không đáp ứng Đạo luật Bảo vệ thú biển (MMPA).
Điều này tạo ra sức ép lớn lên toàn bộ chuỗi sản xuất. Hiện địa phương có khoảng 27 cơ sở chế biến thủy sản xuất khẩu, trong đó 5 cơ sở xuất khẩu trực tiếp sang EU - thị trường có tiêu chuẩn truy xuất khắt khe nhất. Bà Tú cho biết, đang tập trung rà soát toàn bộ hệ thống trước đợt kiểm tra của EU, từ hồ sơ đến thực tế sản xuất, để bảo đảm đáp ứng yêu cầu gỡ “thẻ vàng”. Theo bà, thách thức lớn nhất không nằm ở quy định, mà ở sự liên kết giữa các mắt xích.
.jpg)
Các nhóm nghiệp vụ tại cảng cá đang vận động tàu tham gia chuỗi, cung cấp nguyên liệu có kiểm soát và cấp giấy xác nhận nguồn gốc (SC). Đến nay, toàn tỉnh đã hình thành 48 chuỗi liên kết, kiểm soát gần 60.000 tấn nguyên liệu/năm, phục vụ xuất khẩu và chế biến sâu. Chuỗi liên kết không chỉ bảo đảm đầu ra, mà quan trọng hơn là hình thành kỷ luật khai thác ngay từ biển.
.jpg)
Từ biển ra thị trường, từ ngư dân đến doanh nghiệp, một ranh giới chung đang dần được xác lập: khai thác phải đi cùng trách nhiệm. Không còn chỗ cho những chuyến đi “không dấu vết”. Không còn khoảng mờ trong hành trình của mỗi con tàu. Giữ ranh giới lúc này không chỉ để khai thác không vi phạm, mà để bảo vệ ngư trường, giữ thị trường và đặc biệt hơn là giữ chính sinh kế lâu dài của những người con cả đời bám biển.
.jpg)
Nội dung và ảnh: Thanh Nhàn - Minh Vân - Huỳnh Hiền
Trình bày: Nguyệt Nga
.png)