Nông nghiệp sạch và mối lo xử lý bao bì thuốc bảo vệ thực vật
Trong tháng 4 vừa qua, tại Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, Báo Nông nghiệp và Môi trường đã phối hợp với các đơn vị chức năng thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Môi trường Đắk Lắk và các cơ quan hữu quan tổ chức Diễn đàn “Phổ biến quy định EPR đối với sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật, phân bón và cơ chế hỗ trợ hoạt động xử lý bao bì thuốc BVTV tại các địa phương”.

Trong tháng 4 vừa qua, tại phường Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, Báo Nông nghiệp và Môi trường đã phối hợp với các đơn vị chức năng thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Môi trường Đắk Lắk và các cơ quan hữu quan tổ chức Diễn đàn “Phổ biến quy định EPR đối với sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật, phân bón và cơ chế hỗ trợ hoạt động xử lý bao bì thuốc BVTV tại các địa phương”.
Diễn đàn đã chứng kiến sự tham dự của các nhà quản lý, các doanh nghiệp, các HTX, đại diện nông dân và các nhà khoa học. Các ý kiến phát biểu tại diễn đàn đã thể hiện sự quan tâm của toàn xã hội đối với việc thu gom, quản lý, xử lý chất thải nói chung và bao bì thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), phân bón nói riêng. Đặc biệt trên địa bàn các tỉnh Tây nguyên, là vùng có diện tích cây công nghiệp lớn nhất cả nước, cũng là nơi phát sinh khối lượng lớn bao bì thuốc BVTV cần được xử lý.

Tuy vậy, qua báo cáo của các địa phương vùng Tây Nguyên thì khối lượng bao bì thuốc BVTV được thu gom, xử lý đúng quy định còn hạn chế, vẫn còn tình trạng người dân tùy tiện vứt bao bì trên đồng ruộng, nương rẫy, suối, mương, đường đi… dẫn đến ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí làm ảnh hưởng đến sức khỏe người dân.
Cũng tại diễn đàn, các cơ quan chức năng liên quan đã phổ biến các nội dung chủ yếu của Nghị định số 110/2026/NĐ-CP ngày 1/4/2026 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì và trách nhiệm xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu. Nghị định này quy định chi tiết Điều 54 Luật Bảo vệ môi trường về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì và Điều 55 Luật Bảo vệ môi trường về trách nhiệm thu gom, xử lý chất thải của tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu (tên viết tắt tiếng Anh là EPR).

Để hiện thực hóa các quy định của Luật Bảo vệ môi trường và Nghị định số 110/2026/NĐ-CP thì ngoài trách nhiệm của nhà sản xuất, nhà nhập khẩu, cần đòi hỏi sự chung tay của các cấp chính quyền và người dân trong việc quản lý, thu gom, xử lý chất thải trong đó có bao bì thuốc BVTV.
Để bạn đọc hiểu một cách đầy đủ hơn về các nội dung trên, sau đây là một số thông tin phản ánh thực trạng phát sinh cũng như việc thu gom, xử lý bao bì thuốc BVTV trong ngành nông nghiệp trên phạm vi cả nước nói chung và của tỉnh Lâm đồng nói riêng trong thời gian qua.
.png)

Bên cạnh đó, hoạt động sản xuất nông nghiệp thâm canh cao còn gây tác động xấu đến môi trường đất, nước, không khí do việc sử dụng quá mức phân bón hóa học, chất kích thích sinh trưởng, hóa chất BVTV. Đáng chú ý là một lượng lớn bao bì, chai lọ đựng hóa chất BVTV và ni lông làm vật liệu che phủ đồng ruộng, vỏ bầu cây giống… sau khi sử dụng bị loại bỏ nhưng không được thu gom và xử lý đúng cách.

Về giải pháp thu gom và xử lý, đến nay nhiều địa phương trên cả nước đã triển khai xây dựng bể thu gom bao bì hóa chất BVTV và vận động người dân thu gom mang đến điểm tập kết, để từ đó các đơn vị có chức năng đến vận chuyển và xử lý. Theo Báo cáo công tác bảo vệ môi trường ngành nông nghiệp của Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật thì đến nay, hầu hết các tỉnh, thành phố đã có văn bản chỉ đạo, hướng dẫn thu gom, vận chuyển và xử lý bao bì hóa chất BVTV sau sử dụng.

Từ năm 2022 - 2024, các tỉnh, thành phố đã xây dựng được 456.075 bể chứa, số lượng bao bì thu gom đạt 2.478.471,2 kg; trong đó số lượng tiêu hủy đúng cách 1.415.482 kg, số lượng tự tiêu hủy 506.558,2 kg, số chưa tiêu hủy còn 556.431,1 kg. Số lượng bể chứa và mật độ xây dựng bể của mỗi địa phương là rất khác nhau, tuy nhiên nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế.

Một vấn đề phát sinh nữa là sau khi thu gom tập kết trong các bể chứa thì lượng lớn bao bì thuốc BVTV đã được vận chuyển đem đi xử lý bởi các đơn vị chức năng được cấp phép, còn một số lượng đáng kể chưa được các địa phương hợp đồng xử lý một cách kịp thời hoặc lưu chứa chung với các loại rác thải sinh hoạt khác làm tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường.

.png)
Đối với tỉnh Lâm đồng, theo Báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường, năm 2025, sở đã phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức tập huấn 45 lớp cho 3.265 lượt người tham dự để nâng cao nhận thức của người dân, doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất kinh doanh vật tư nông nghiệp về tác hại của việc thải bỏ bao gói thuốc BVTV, hướng dẫn việc thu gom, vận chuyển và xử lý bao gói thuốc BVTV sau sử dụng. Đồng thời tổ chức 12 lễ phát động, chương trình đổi bao gói thuốc BVTV lấy quà tặng với 1.100 lượt người tham dự.

Lũy kế đến cuối năm 2025, toàn tỉnh đã xây dựng được 23 kho lưu chứa tạm thời bao gói thuốc BVTV và 4.810 bể chứa. Số lượng bao gói thuốc BVTV sau sử dụng đã thu gom, xử lý đúng quy định năm 2025 đạt 103,02 tấn/267 tấn (chiếm 38,6% lượng bao gói thuốc BVTV phát sinh trên địa bàn tỉnh). Toàn bộ lượng bao gói thuốc BVTV tại các bể chứa được hợp đồng tiêu hủy với các đơn vị được Bộ Nông nghiệp và Môi trường cấp phép thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại.

Mặc dù đã đạt được những kết quả đáng khích lệ như trên, nhưng trong quá trình triển khai công tác quản lý, thu gom và xử lý bao bì thuốc BVTV vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế biểu hiện ở những mặt cụ thể sau: Trước hết, so với quy mô về sản xuất nông nghiệp của tỉnh, thì số lượng bể chứa rác thải tại các cánh đồng, nương rẫy, trang trại còn chưa tương xứng, nên lượng bao bì thuốc BVTV được thu gom tập kết trong sản xuất nông nghiệp còn chiếm tỷ lệ thấp.

Bên cạnh đó, mặc dù nhận thức của người dân về tác hại của bao bì thuốc BVTV đã được cải thiện nhưng ý thức tự giác để thu gom, tập kết còn hạn chế, vẫn còn tình trạng thải bừa bãi bao gói thuốc BVTV tại nơi canh tác hoặc gom chung với rác thải sinh hoạt để mang đi đốt, chôn lấp…
Việc triển khai công tác thu gom, xử lý bao gói thuốc BVTV sau sử dụng trên địa bàn nhiều xã gặp khó khăn do nguồn kinh phí còn hạn chế, dẫn đến không có hoặc không bố trí đủ kinh phí cho công tác xây mới, bảo vệ, sửa chữa các bể thu gom cũng như hợp đồng với các đơn vị chức năng để vận chuyển và xử lý. Trong khi đó, nhiều địa phương có địa bàn rộng, các khu vực canh tác nông, lâm nghiệp phân tán, nhiều nông hộ canh tác tại các khu vực biệt lập gây khó khăn cho việc quản lý thu gom, vận chuyển xử lý chất thải là bao bì thuốc BVTV.

Ngoài ra, do mới kiện toàn lại đội ngũ cán bộ sau sắp xếp chính quyền địa phương 2 cấp nên nhiều cán bộ chuyên môn ở cơ sở chưa được tập huấn chuyên sâu, chưa thường xuyên kiểm tra, hướng dẫn tuyên truyền cho người dân và doanh nghiệp trên địa bàn cùng chung nhận thức và hành động để kiểm soát loại chất thải phát sinh trong nông nghiệp này một cách có hiệu quả.


Trong thời gian sắp tới, để hướng đến mục tiêu xây dựng một nền nông nghiệp chất lượng cao, nền nông nghiệp sạch và bền vững thì cần có những giải pháp mang tính đột phá như sau:
Trước hết, để giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường từ rác thải là bao bì thuốc BVTV thì điều quan trọng là phải có sự chung tay của toàn xã hội, nhưng trong đó ý thức sử dụng của người nông dân là quan trọng nhất. Chính vì vậy, các cấp, các ngành cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, thay đổi thói quen vứt vỏ bao bì thuốc BVTV một cách tùy tiện; tổ chức thu gom, xử lý bao bì từ các bể chứa theo quy định, xây dựng bồn chứa tại các xã, phường, đặc khu, nhất là tại các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung... góp phần bảo vệ môi trường, xây dựng nền nông nghiệp sạch và bền vững.

Ngoài việc tổ chức các lớp tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ cấp xã, trưởng thôn, các đoàn thể thì cần đẩy mạnh việc tuyên truyền, hướng dẫn cho người dân về sử dụng thuốc BVTV an toàn, hiệu quả, thu gom, xử lý bao gói thuốc BVTV theo đúng quy định nhằm ngăn ngừa ô nhiễm môi trường. Cần quan tâm tiếp tục đầu tư xây dựng, lắp đặt các bể chứa, kho lưu chứa bao gói thuốc BVTV sau sử dụng; bố trí kinh phí từ nguồn sự nghiệp môi trường để triển khai hiệu quả phương án thu gom, vận chuyển và xử lý bao gói thuốc BVTV sau sử dụng tại địa phương. Tiếp tục xây dựng nhân rộng các mô hình ứng dụng quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp (IPHM), phát triển sản xuất an toàn (Viet GAP, Global GAP) nhằm giảm thiểu việc sử dụng thuốc BVTV hóa học.

Cùng với việc đẩy mạnh thu gom, xử lý bao bì thuốc bảo vệ thực vật, để hướng đến mục tiêu bảo vệ môi trường trong sản xuất nông nghiệp thì ngành nông nghiệp và môi trường cần tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp, trong đó ưu tiên xây dựng các vùng sản xuất nông sản an toàn, chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn để cấp mã số vùng trồng. Song song với việc kiểm tra, hướng dẫn các địa phương đẩy mạnh việc sử dụng thuốc BVTV an toàn, hiệu quả và có trách nhiệm, cần liên tục, thường xuyên rà soát, quản lý chặt chẽ đầu vào của thuốc BVTV. Chỉ cho phép sử dụng các loại thuốc BVTV thuộc thế hệ mới và thuốc bảo vệ thực vật sinh học.
Bảo vệ môi trường nông thôn và phát triển nền nông nghiệp bền vững là nhiệm vụ quan trọng, không chỉ đối với mỗi người nông dân mà còn là trách nhiệm chung của cả cộng đồng, của các doanh nghiệp và chính quyền, đoàn thể các cấp. Hãy cùng chung tay từ ngày hôm nay để có một nền nông nghiệp sạch và bền vững ngày mai.

Nội dung: Nguyễn Văn Hiệp
Trình bày: Phạm Lương