Một Tây Nguyên vững vàng nơi phía tây Tổ quốc
Có một thời, khi nhắc đến Tây Nguyên là nghĩ tới một miền thẳm xa, heo hút. Trong hai cuộc chiến tranh, vùng đất này bị tàn phá xác xơ bởi bom đạn kẻ thù. Những năm sau hòa bình, đây vẫn là xứ sở của rừng thiêng nước độc, của hủ tục, đói nghèo và bệnh tật. Một thời, bọn phản động Fulro nổi lên chống phá sự bình yên của các buôn làng. Còn giờ đây, Tây Nguyên trở thành một vùng đất ngày càng giàu có, hiện đại, văn minh. Từ khi Đảng khởi xướng và lãnh đạo công cuộc Đổi mới, đại ngàn phía tây bắt nhịp cùng cả nước, phát triển không ngừng…

Có một thời, khi nhắc đến Tây Nguyên là nghĩ tới một miền thẳm xa, heo hút. Trong hai cuộc chiến tranh, vùng đất này bị tàn phá xác xơ bởi bom đạn kẻ thù. Những năm sau hòa bình, đây vẫn là xứ sở của rừng thiêng nước độc, của hủ tục, đói nghèo và bệnh tật. Một thời, bọn phản động Fulro nổi lên chống phá sự bình yên của các buôn làng. Còn giờ đây, Tây Nguyên trở thành một vùng đất ngày càng giàu có, hiện đại, văn minh. Từ khi Đảng khởi xướng và lãnh đạo công cuộc Đổi mới, đại ngàn phía tây bắt nhịp cùng cả nước, phát triển không ngừng…


Chúng tôi đã tìm kiếm ký ức các các dân tộc từ sử thi, truyện cổ, luật tục và những câu hát trao truyền. Trong những áng cổ văn ấy đã khai mở về nguồn gốc các cộng đồng cư dân.

Thời tiền sử, có những dòng người nói hai ngữ hệ Môn Khmer và Malayo-Polynesia trong những cuộc di dân khổng lồ đi tìm đất sống và cơ duyên đã cho họ neo đậu với đại ngàn Tây Nguyên, trở thành chủ nhân của vùng đất này.
Từ đây, đã hình thành những cộng đồng gắn bó với rừng, sống dựa vào rừng, tạo nên một vùng văn hóa đặc sắc và hệ minh triết riêng. Họ là đồng bào Ê đê, Bana, Sê đăng, Jrai, K'ho, Mạ, M’nông, S’tiêng…

Sử cũng ghi, từ năm 1470, vua Lê Thánh Tông của nước Đại Việt đã biết đến Tây Nguyên và gọi đây là xứ Nam Bàn. Nhà Nguyễn thì đã cử quan chức đi tuần trú vùng rừng núi phía tây và nhận sự triều cống của các thủ lĩnh xứ này.

“Nóc nhà Đông Dương” là một cách nói ví von về Tây Nguyên. Nhiều chiến lược gia ở phía bên kia đã từng nhận định: Ai chiếm được Tây Nguyên sẽ làm chủ Đông Dương. Bởi, Tây Nguyên có một vị trí chiến lược quan trọng cả về chính trị, kinh tế, văn hóa và quân sự. Theo dòng lịch sử, từ sau khi thôn tính Nam Bộ khoảng từ năm 1867 đến năm 1883, giặc Pháp đã tiến lên Tây Nguyên.

Chúng đã sớm thiết lập bộ máy cai trị, tổ chức khai thác vùng đất giàu có này. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa dưới sự cố vấn của Hoa Kỳ cũng đã xây dựng Tây Nguyên trở thành một trong những địa bàn quân sự quan trọng bậc nhất miền Nam.
Đà Lạt trở thành “thủ đô mùa hè” của quan chức chóp bu Việt Nam Cộng hòa. Đô thị này cũng là nơi chúng đặt những trung tâm đào tạo tướng lĩnh cao cấp như Trường Sỹ quan Chính trị, Võ bị Đà Lạt. Cả xứ Tây Nguyên đều thuộc địa bàn Vùng 2 chiến thuật của quân lực địch với một hệ thống bố phòng dày đặc trên một phạm vi khổng lồ…

Pháp rồi Mỹ xâm lược nước ta, người Tây Nguyên rên xiết dưới gót dày ngoại bang. Máu và nước mắt của đồng bào đổ xuống cho những đồn điền tươi tốt, những hầm mỏ quý mang lại sự giàu có cho bọn thực dân, đế quốc.
Bao người nát thịt, tan xương dưới vực sâu, trong rừng thẳm bởi những cuộc bắt phu, bắt xâu xây dựng những tuyến đường ngang dọc Tây Nguyên nhằm phục vụ cho mục đích khai thác, vơ vét tài nguyên của quân xâm lược. Tức nước vỡ bờ, người Tây Nguyên vùng lên.

Lịch sử còn nhắc, khi chưa có Đảng lãnh đạo, nhiều phong trào yêu nước do các thủ lĩnh dân tộc thiểu số lãnh đạo đã nổ ra: Các cuộc nổi dậy của các tù trưởng Ama Jhao, N’Trang Gưh, thầy giáo Y Jút (Ê đê); vua lửa Ôi Ất (Giarai), phong trào Săm Brăm (Chăm), phong trào Mọ Cọ (K'ho)… và đặc biệt là cuộc khởi nghĩa vũ trang quy mô lớn, kéo dài nhiều năm của N’Trang Lơng (M’nông). Các cuộc nổi dậy tự phát phần nào đã làm cho thực dân Pháp thất điên bát đảo nhưng tất cả đều rơi vào thất bại.

Từ khi có ánh sáng của Đảng, Bác Hồ, Tây Nguyên bừng lên một tinh thần cách mạng mới. Sức mạnh bất khuất tiềm tàng của núi, của nước, được những “người của Đảng” thổi cháy bùng lên. Tây Nguyên kề vai sát cánh với cả dân tộc chiến đấu chống lại kẻ thù.

Các tộc người anh em nghe theo lời Đảng, lời Bác đánh Pháp, đuổi Mỹ và trở thành những anh hùng trong thời đại mới, như: Đinh Núp, A Sanh, Bi Năng Tắc… Những buôn làng ngày xưa tối tăm không tìm ra đường sáng đã trở thành những vùng chiến khu kiên trung một lòng theo cách mạng như Đắk Ui (Quảng Ngãi); Chư Djũ (Đắk Lắk); Nâm Nung, Đồng Mang-Đạ Tro, Lộc Bắc, Lộc Lâm, Đồng Nai Thượng (Lâm Đồng)…
.jpg)
Cách đây 51 năm, xác định vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng của địa bàn này, Đảng ta đã quyết định mở màn cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân 1975 bằng Chiến dịch Tây Nguyên lịch sử. Đó là đòn tiến công mang yếu tố quyết định. Mất Tây Nguyên, chính quyền và quân lực Việt Nam Cộng hòa hoàn toàn rệu rã và dẫn đến sụp đổ dưới bước chân thần tốc của quân và dân ta. Từ đây, lịch sử Tây Nguyên đã bước sang trang mới.

Từ ngày nước nhà thống nhất, các dân tộc Tây Nguyên được giải phóng khỏi đêm trường đói nghèo, lạc hậu; phát triển bình đẳng cùng đồng bào cả nước. Đảng và Nhà nước đã triển khai nhiều nghị quyết, tổ chức nhiều chương trình và đầu tư những nguồn lực lớn để phát triển vùng đất giàu có tiềm năng này.

Đặc biệt, giai đoạn “sắp xếp lại giang sơn”, Tây Nguyên trở thành một vùng đất thuộc 4 tỉnh lớn là Lâm Đồng, Đắk Lắk, Quảng Ngãi và Gia Lai. Không gian phát triển mới và biên độ một vùng văn hóa mở ra. Tây Nguyên đại ngàn cùng hướng ra biển lớn bằng một tâm thế mới.

Trở lại với giai đoạn từ khi Đảng ta khởi xướng sự nghiệp Đổi mới, thì các chương trình, chính sách, nguồn lực đầu tư vào địa bàn chiến lược này ngày càng cao.

Trên vùng đất phía tây Tổ quốc với tổng diện tích tự nhiên trên 55.000 km2, kho tàng tài nguyên giàu có, nơi chung sống của hơn 5 triệu người của 47 dân tộc anh em, khắp các buôn làng, phố thị cuộc sống ngày càng khởi sắc.
Những công trình hạ tầng, phúc lợi được xây dựng nhiều hơn. Tây Nguyên trong ký ức là miền thẳm xa, heo hút. Bởi lẽ đó, Nhà nước huy động mọi nguồn lực nhằm phát triển giao thông.

Ngày nay, đường bộ toàn mạng lưới có độ dài hơn 40.000 km đã kết nối các tỉnh, mở rộng cơ hội giao thương với các trung tâm lớn cả nước và các nước trong khu vực. Trong đó, các quốc lộ và cao tốc chạy qua Tây Nguyên có tổng độ dài gần 3.000 km; các liên tỉnh lộ hơn 2.000 km; hệ thống giao thông liên cửa khẩu đã nối liền Tây Nguyên với 2 nước láng giềng. Đường Hồ Chí Minh cùng đường hành lang Đông - Tây xuyên qua vùng đã làm thay đổi diện mạo những buôn làng từng là vùng sâu, vùng xa.

Hàng không phát triển với 3 sân bay: Liên Khương, Buôn Ma Thuột và Pleiku. Dự án khôi phục đường sắt Đà Lạt - Tháp Chàm và mở tuyến đường sắt mới phục vụ cho các nhà máy Alumin Nhân Cơ, Tân Rai đang được tính toán. Gần đây, một loạt các dự án đường cao tốc nối liền Tây Nguyên với TP Hồ Chí Minh, các tỉnh miền Đông, miền Tây Nam Bộ, với khu vực duyên hải và phía Bắc đang được khởi động.
Các vùng Tây Nguyên đang nối liền vào nhau, liên kết toàn khu vực nhằm khai thác toàn diện lợi thế và bản sắc. Cao nguyên Đắk Lắk là thủ phủ cà phê và cây ăn quả. Lâm Đồng là một trung tâm du lịch, vùng chuyên canh rau, hoa và cây công nghiệp. Đông Gia Lai là quê hương của hồ tiêu, cao su, chế biến nông, lâm sản. Phía tây Quảng Ngãi là vùng chuyên canh dược liệu.

Tây Nguyên trở thành vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm của cả nước với gần 600.000 ha cà phê, sản lượng bình quân đạt 1,3 triệu tấn/năm; 72.000 ha hồ tiêu sản lượng mỗi năm đạt từ 121.000 tấn; cao su, điều, rau, hoa cũng phát triển mạnh. GDP bình quân đầu người đạt trên 40 triệu đồng/năm.
.jpg)
Cùng với việc quy hoạch, đầu tư phát triển các đô thị, các tỉnh Tây Nguyên đã nỗ lực thực thi các giải pháp để nâng cao tốc độ phát triển nông thôn, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, rút ngắn khoảng cách thu nhập và điều kiện thụ hưởng các lợi ích an sinh. Đồng thời với việc mở mang các khu, điểm, cụm công nghiệp, các dự án lớn, việc triển khai chương trình Xây dựng nông thôn mới đến tất cả các xã, các buôn làng đã góp phần cải thiện hạ tầng, nâng cao nhận thức và giúp đồng bào đẩy lùi nghèo đói, hướng đến sự no đủ giàu có.

Khai thác có hiệu quả tiềm năng đất đai, tiếp cận thành công kinh tế thị trường nên trên vùng đất này đã xuất hiện nhiều tỷ phú người dân tộc thiểu số. Cùng với việc bảo tồn bản sắc văn hóa, đồng bào các dân tộc thiểu số còn được hưởng những chính sách ưu đãi về giáo dục, y tế và các chính sách an sinh xã hội khác…

Trên vùng đất Tây Nguyên có 3 ngọn núi cao là Cư Yăng Sin, Bidoúp và Ngok Linh sừng sững như 3 nóc nhà choãi chân từ 3 góc đại ngàn hùng vĩ. Những con sông lớn như Krông Anô, Krông Ana, Sêrêpốk, Đắk Bla, Sê San, Đồng Nai… bắt nguồn từ những dãy núi, len lỏi qua những cánh rừng, những buôn làng như những dải hoa văn đa sắc, chở trên mình những giá trị lịch sử, văn hóa ngàn đời.

Đất, nước và con người Tây Nguyên đã kết thành một thế đứng vững chãi, dựng nên biểu tượng của tinh thần đoàn kết, khí phách kiên trung và kiêu hãnh. Nguồn mạch ấy mãi mãi dưỡng nuôi một Tây Nguyên phát triển không ngừng nơi đại ngàn phía tây Tổ quốc.

Nội dung, ảnh: Uông Thái Biểu
Trình bày: Phạm Lương
*Bài viết có sử dụng một số hình ảnh tư liệu của đồng nghiệp