Văn hóa - Giải trí

Hoa

Võ Nguyên .

Trong tiếng Việt, từ “hoa” trước tiên là chỉ một bộ phận của cỏ cây, là cơ quan sinh sản của thực vật. Hoa nở là tín hiệu cho thấy cây đã tích lũy đủ dưỡng chất, khi gặp điều kiện thuận lợi về thời tiết, ánh sáng, hoa bung nở. Hoa nở tiết ra hương mật thu hút côn trùng (ong, bướm) hoặc gió để thụ phấn, từ đó tạo trái và hạt. Hiện tượng này mang ý nghĩa sinh học cốt lõi để duy trì nòi giống và phát triển hệ sinh thái. Tùy theo vùng miền, có nơi gọi hoa là bông.

Hoa tươi là một phần không thể thiếu trong đời sống hằng ngày, không chỉ dùng để trang trí cho không gian trở nên rạng rỡ mà còn làm quà tặng vào các sự kiện quan trọng mang nhiều cảm xúc. Khi em bé thôi nôi, người thân ngoài quà bánh áo, mũ còn mua hoa kèm theo thay lời cầu chúc mọi điều tươi sáng. Khi trưởng thành, nhân kỷ niệm sinh nhật, người thân cũng dùng hoa để tặng - nhất là trong tình yêu, tặng hoa là thứ ngôn ngữ tinh tế không lời để bày tỏ tình cảm, sự quan tâm và trân trọng. Nhưng mỗi loại hoa đều mang thông điệp riêng: hoa hồng tượng trưng tình yêu mãnh liệt, hoa baby đại diện sự thuần khiết, hoa lưu ly thể hiện sự thủy chung... Trong các buổi lễ (như khai trương - khai mạc, tổng kết sự kiện quan trọng, mừng công…), người ta cũng tặng hoa để chúc mừng. Đến lúc cuối một cuộc đời, người ta lại gửi đến những vòng hoa màu trắng hay vàng nhạt phúng điếu, biểu tượng sự thiêng liêng thay lời tiễn biệt người đã khuất và an ủi người ở lại. Những lẵng hoa phúng điếu giúp xua tan bớt không khí tang thương lạnh lẽo, đồng thời thể hiện sự tri ân và lòng thành kính sâu sắc, cầu mong người khuất được bình yên siêu thoát.

Hoa xuất hiện trong đời sống con người muôn hình vạn trạng, gắn liền với mọi cung bậc cảm xúc, từ rực rỡ hạnh phúc đến tàn phai đau khổ. Kho từ vựng Hán Việt có từ “hoa hậu”, “hoa” là vẻ đẹp như bông hoa, “hậu” chỉ người đứng đầu (phái nữ) hoặc chỉ bà hoàng. Danh hiệu “hoa hậu” giành trao cho người phụ nữ đạt giải nhất trong một cuộc thi sắc đẹp ở tầm cỡ quy mô lớn (cấp quốc gia hoặc quốc tế). Còn “hoa khôi” cũng dành chỉ sắc đẹp phụ nữ nhưng ở cấp độ không gian nhỏ hẹp hơn. Từ “hoa” còn dùng để chỉ phần tinh túy nhất của một sự vật, như “hoa tay” (chỉ sự khéo léo, tài hoa, “tinh hoa” (phần quý giá nhất của trí tuệ, văn hóa).

Từ “hoa” được sử dụng trong ngôn ngữ và văn hóa - văn học hết sức phong phú. Riêng Truyện Kiều của Nguyễn Du, từ “hoa” xuất hiện với tần số chưa từng thấy trong tác phẩm văn học Việt Nam nào nhiều đến thế: 107 lần, trong đó có tới 76 trường hợp “hoa” được dùng hoán dụ với nghĩa chỉ “người đẹp, sắc đẹp, tình yêu” (Từ điển Truyện Kiều, Đào Duy Anh, NXB Khoa học Xã hội, 1974). Đơn cử một góc độ tác giả dùng hình ảnh “hoa” để ẩn dụ về Kiều, từ nét đẹp dáng điệu, diện mạo, dung nhan, “Nàng càng ủ dột nét hoa”, đến lời nói, cử chỉ: “Hoa cười ngọc thốt đoan trang”, hạnh phúc đến buồn đau… Ví như cảnh Kiều mắc lừa Sở Khanh: “Giá đành trong nguyệt trên mây/ Hoa sao hoa khéo đọa đày bấy hoa”, người con gái xinh đẹp tuyệt trần như Kiều vốn dĩ phải được sống cuộc đời cao quý, tựa như vầng trăng sáng đẹp trên mây; nhưng ngược lại rơi vào cảnh truân chuyên, đau khổ. Hay nói cuộc đời người con gái đẹp bị rơi vào cảnh lưu lạc xót xa: “Nàng rằng: Chút phận hoa rơi/ Nửa đời nếm trải mọi mùi đắng cay.” Hay mô tả tâm trạng u uất, buồn tủi của Kiều khi bị mụ mối “giục nàng kíp ra: Nỗi mình thêm tức nỗi nhà/ Thềm hoa một bước lệ hoa mấy hàng.” Cũng như nỗi đau ê chề của Kiều bị bọn quan lại xử ép ở lầu xanh, khinh rẻ nhân phẩm, xem nàng như bông hoa tàn phai, còn chăng một chút hương thừa: “Tuồng chi hoa thải hương thừa/ Mượn màu son phấn đánh lừa con đen”. Mô tả cuộc chơi thì hết cỡ, chẳng còn thiết gì: “Chơi cho liễu chán hoa chê/ Cho lăn lóc đá cho mê mẩn đời”. Khi trải qua khổ ải đoạn trường, nhan sắc một thời sau khi gặp lại người xưa: “Hoa tàn mà lại thêm tươi/ Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa”…

Từ “hoa” trong tiếng Việt còn phản ánh quan niệm triết lý về sự vô thường: “Xuân khứ bách hoa lạc/ Xuân đáo bách hoa khai” (Mãn Giác thiền sư), nói về quy luật của tự nhiên và đời người. Nó nhắc nhở con người phải biết trân quý, nâng niu, chăm chút khoảnh khắc hiện tại (thanh xuân, hạnh phúc), “Chơi hoa chớ để hoa tàn”, biết sống trọn vẹn những điều tốt đẹp đang có.

Người Việt sử dụng từ “hoa” rất linh hoạt để mô tả những hiện tượng tự nhiên hoặc trạng thái con người. Cơ thể mệt mỏi choáng váng, dùng từ “hoa mắt”, nói năng bóng bẩy dùng từ “hoa mỹ”. Chỉ tìm hiểu một từ “hoa” đã thấy sự phong phú tuyệt vời của tiếng Việt.

Võ Nguyên .