Đoàn đại biểu Quốc hội - HĐND

Đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng: Hòa giải phải thực chất, sát dân và bảo đảm niềm tin

Ngọc Diệp 10/08/2026 13:08

Tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, sáng 10/8, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi). Phát biểu tại phiên thảo luận, các đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng đề nghị tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật theo hướng rõ phạm vi hòa giải, đủ nguồn lực thực hiện, phù hợp đặc thù địa bàn và bảo đảm an toàn, bảo mật khi hòa giải trực tuyến.

202608100834029841_z8134842447883_317c899384bb1127ba4aa791f9368dbe.jpg
Đoàn Chủ toạ điều hành Phiên thảo luận vào sáng 10/8

Không để hòa giải cản trở xử lý vi phạm

Phát biểu tại hội trường, đại biểu Dương Khắc Mai, Phó Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng ghi nhận và đánh giá cao tinh thần cầu thị của cơ quan chủ trì soạn thảo, nhất là việc tiếp tục làm rõ phạm vi hòa giải, hoàn thiện chính sách của Nhà nước và cơ chế huy động người có uy tín, người có chuyên môn tham gia hòa giải.

1786335418966_8342690962916268505_8342690962916268505_955c6c56ff335b04e91de4e009f2e6c0.jpg
Đại biểu Dương Khắc Mai, Phó Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng nêu ý kiến tại phiên thảo luận

Góp ý về phạm vi hòa giải ở cơ sở tại Điều 3, đại biểu thống nhất với giải trình của Bộ Tư pháp rằng hòa giải viên không có trách nhiệm xác định hành vi có phải là vi phạm hành chính hay tội phạm hay không. Khi phát hiện vụ việc có dấu hiệu vi phạm hành chính hoặc hình sự thì thực hiện nghĩa vụ thông báo theo quy định.

Tuy nhiên, theo đại biểu, trên thực tế có những vụ việc vừa có dấu hiệu vi phạm phải chuyển cơ quan có thẩm quyền xử lý, vừa có nội dung dân sự mà pháp luật cho phép các bên tự thỏa thuận như bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả. Đây là ranh giới không dễ xác định đối với hòa giải viên ở cơ sở.

Do đó, đại biểu Dương Khắc Mai đề nghị tiếp tục rà soát Điều 3 gắn với khoản 5 Điều 12, làm rõ nguyên tắc: khi phát hiện dấu hiệu vi phạm hành chính hoặc hình sự phải kịp thời thông báo; đồng thời chỉ tiếp tục hòa giải đối với những nội dung pháp luật cho phép các bên tự thỏa thuận.

“Việc hòa giải không được làm chậm biện pháp bảo vệ người bị xâm hại hoặc cản trở quá trình xử lý vi phạm”, đại biểu nhấn mạnh.

202608100838340428_z8134876029996_758952ff1f18d0273c799384901e12d4.jpg
Các đại biểu tham dự

Đối với chính sách tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, đại biểu đồng tình với việc không thiết kế thêm chính sách đặc thù riêng tại Điều 5 để tránh trùng lặp. Đồng thời, đại biểu đánh giá cao các cơ chế như cho phép sử dụng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình; bố trí hòa giải viên là người dân tộc thiểu số ở địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu số; bố trí phiên dịch khi cần thiết; khuyến khích già làng, trưởng bản, người có uy tín và người biết tiếng dân tộc thiểu số tham gia hòa giải.

Từ thực tiễn tỉnh Lâm Đồng, đại biểu cho rằng hiệu quả hòa giải tại những địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu số, dân cư sinh sống phân tán không chỉ phụ thuộc vào kiến thức pháp luật mà còn gắn với khả năng sử dụng ngôn ngữ, sự am hiểu phong tục, tập quán và uy tín của người tham gia hòa giải. Vì vậy, cần bảo đảm nguồn lực bồi dưỡng hòa giải viên biết tiếng dân tộc thiểu số, phát huy vai trò người có uy tín và xây dựng tài liệu nghiệp vụ phù hợp với ngôn ngữ, phong tục, điều kiện từng địa bàn.

202608100815320070_z8134793521412_918dba0bf4037cd8b90a395e6bd64005.jpg
Các đại biểu tham dự

Một vấn đề khác được đại biểu Dương Khắc Mai lưu ý là chế độ thù lao đối với người được mời tham gia hòa giải. Theo đại biểu, dự thảo đã tiếp thu theo hướng người được mời có thể tư vấn, hỗ trợ hòa giải viên hoặc trực tiếp tham gia hòa giải. Tuy nhiên, khoản 2 Điều 19 mới quy định quyền hưởng thù lao đối với người được mời trực tiếp tham gia hòa giải, trong khi báo cáo giải trình dự kiến mở rộng sang người tư vấn, hỗ trợ. “Đề nghị quy định ngay tại Điều 19 nguyên tắc người được mời tư vấn, hỗ trợ hòa giải viên hoặc trực tiếp tham gia hòa giải đều được hưởng thù lao phù hợp với hình thức, mức độ tham gia”, đại biểu Dương Khắc Mai đề nghị.

Theo đại biểu, Chính phủ có thể được giao quy định cụ thể điều kiện, mức hưởng và phương thức chi trả, nhưng nguyên tắc hưởng thù lao cần được thể hiện ngay trong Luật.

Đưa hòa giải lên môi trường số nhưng không đánh mất niềm tin

Góp ý về Điều 25, đại biểu Huỳnh Ngọc Liêm, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng cho rằng hòa giải trực tuyến cần được mở rộng, nhưng ngay trong Luật phải có những nguyên tắc tối thiểu để bảo vệ người tham gia.

Theo đại biểu, điểm đặc biệt của hòa giải ở cơ sở là không chỉ giải quyết một tranh chấp mà còn phải giữ lại một mối quan hệ. Những tranh chấp về lối đi, hàng rào, thoát nước; khoản vay giữa người quen; bất đồng trong gia đình hoặc giữa những người hàng xóm nếu được tháo gỡ từ sớm có thể kết thúc bằng một cái bắt tay.

Ngược lại, nếu xử lý không khéo, mâu thuẫn nhỏ có thể kéo dài thành khiếu kiện, xô xát, vi phạm pháp luật hoặc những vụ việc phức tạp hơn về an ninh, trật tự.

1786335418960_8342690962916268505_8342690962916268505_e61b65ed9b6ae1a5df3d785e521aa1fc.jpg
Đại biểu Huỳnh Ngọc Liêm, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng phát biểu ý kiến tại phiên thảo luận

“Hòa giải ở cơ sở chính là một tầng phòng ngừa xã hội từ sớm, từ cơ sở”, đại biểu Huỳnh Ngọc Liêm nhận định.

Đại biểu tán thành việc dự thảo cho phép hòa giải bằng hình thức trực tiếp, trực tuyến hoặc kết hợp. Quy định này phù hợp với thực tiễn, nhất là trong trường hợp các bên ở những địa phương khác nhau. Tuy nhiên, hòa giải trực tuyến cũng đặt ra những rủi ro về bảo mật. Đại biểu nêu tình huống một bên âm thầm sử dụng thiết bị khác để ghi hình, sau đó cắt một đoạn phát biểu đưa lên mạng xã hội hoặc gửi vào nhóm dân cư; hoặc phía sau màn hình có người thứ ba nghe toàn bộ câu chuyện mà bên còn lại không biết. Trong môi trường trực tuyến, hình ảnh, giọng nói, thông tin về tài sản, quan hệ gia đình và nguyên nhân tranh chấp cũng có thể bị lưu lại hoặc chuyển cho người khác.

202608100838341053_z8134878627937_77aa7d31e4b78064a48132139db23150.jpg
Các đại biểu tham dự

Theo đại biểu, đây là điểm khác biệt căn bản giữa hòa giải trực tiếp và hòa giải trên môi trường số. “Công nghệ có thể thay đổi nơi chúng ta gặp nhau, nhưng không được làm mất đi niềm tin giữa những người đang cần ngồi lại với nhau”, đại biểu Huỳnh Ngọc Liêm nhấn mạnh.

Từ đó, đại biểu đề nghị Điều 25 quy định ngay trong Luật 3 nguyên tắc tối thiểu. Một là, hòa giải trực tuyến phải có sự đồng thuận của các bên. Hai là, phải bảo đảm xác định đúng người tham gia và kiểm soát người được phép có mặt trong phiên hòa giải. Ba là, việc ghi âm, ghi hình, sao chép, lưu trữ hoặc cung cấp nội dung phiên hòa giải cho người khác phải có sự đồng ý của các bên, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; đồng thời tuân thủ yêu cầu về bảo vệ dữ liệu cá nhân và an toàn thông tin.

Đại biểu cho rằng Luật chỉ cần quy định nguyên tắc; còn nền tảng sử dụng, phương thức xác thực, tiêu chuẩn kỹ thuật và biện pháp bảo mật cụ thể có thể giao Chính phủ quy định. “Không để một công cụ được tạo ra để giải quyết mâu thuẫn lại vô tình trở thành nguyên nhân làm mâu thuẫn lớn hơn”, đại biểu đề nghị.

Rõ trách nhiệm, đủ nguồn lực để Luật đi vào cuộc sống

1786335418950_8342690962916268505_8342690962916268505_44e8555829f1e37e3515bc45b38a5e18.jpg
Đại biểu Trần Thị Oanh, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng nêu ý kiến tại phiên thảo luận

Đại biểu Trần Thị Oanh, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng cơ bản thống nhất với dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi), đồng thời đề nghị tiếp tục rà soát, hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu thực tiễn, phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp. Về kinh phí thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở tại Điều 6, đại biểu cho rằng đây là một trong những vấn đề có tính quyết định đối với khả năng thực thi của Luật.

Dự thảo đã có bước tiến trong việc xác định trách nhiệm bảo đảm kinh phí, song cần quy định rõ hơn nguồn kinh phí của từng cấp, tránh tình trạng Luật giao nhiệm vụ nhưng khi triển khai lại không xác định được nguồn lực. Đại biểu đề nghị thể hiện rõ nguyên tắc: nhiệm vụ của cấp nào thì ngân sách cấp đó bảo đảm; trường hợp cấp trên giao nhiệm vụ cho cấp dưới thì phải bảo đảm nguồn lực để thực hiện nhiệm vụ được giao.

Đối với tổ hòa giải, đại biểu cho rằng khoản 2 Điều 14 quy định Chủ tịch UBND cấp xã quyết định số lượng tổ hòa giải trên địa bàn, số lượng hòa giải viên trong mỗi tổ căn cứ đặc điểm kinh tế - xã hội, dân số và trên cơ sở đề nghị của Ủy ban MTTQ Việt Nam cấp xã còn khá chung chung. Đại biểu đề nghị bổ sung các căn cứ như số lượng thôn, tổ dân phố, diện tích, địa bàn, đặc điểm vùng miền và nhu cầu hòa giải thực tế. Đồng thời, cần làm rõ mối quan hệ giữa Chủ tịch UBND cấp xã và Ủy ban MTTQ Việt Nam cấp xã trong việc quyết định số lượng tổ hòa giải, bảo đảm phát huy vai trò giám sát, phản biện của Mặt trận.

202608100815320070_z8134793513166_8a3eeb55a0631f21307c81784970cc1b.jpg
Các đại biểu tham dự phiên thảo luận

Về trách nhiệm của UBND các cấp tại Điều 32, đại biểu Trần Thị Oanh đề nghị phân định rõ trách nhiệm của từng cấp chính quyền nhưng không nên quy định quá nhiều nhiệm vụ nhỏ lẻ, dẫn đến chồng chéo hoặc khó xác định trách nhiệm chính. Theo đại biểu, cấp tỉnh tập trung vào quản lý nhà nước, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, tổ chức thực hiện những nhiệm vụ có tính chất chung trên địa bàn và bảo đảm nguồn lực thuộc trách nhiệm của cấp tỉnh.

Cấp xã là cấp trực tiếp tổ chức và bảo đảm điều kiện hoạt động của tổ hòa giải ở cơ sở. Đại biểu cũng đề nghị làm rõ trách nhiệm xây dựng tài liệu và bồi dưỡng nghiệp vụ cho hòa giải viên. Theo đó, Bộ Tư pháp nên chủ trì xây dựng, ban hành hoặc hướng dẫn khung nội dung, chương trình, tài liệu bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ và kỹ năng hòa giải ở cơ sở thống nhất trên phạm vi cả nước. Trên cơ sở đó, UBND cấp tỉnh tổ chức biên soạn, bổ sung tài liệu phù hợp với đặc điểm, điều kiện và yêu cầu thực tiễn của địa phương; đồng thời tổ chức bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ và kỹ năng hòa giải ở cơ sở.

Đối với vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, đại biểu Trần Thị Oanh thống nhất với việc tiếp tục khẳng định vai trò của Mặt trận trong công tác hòa giải ở cơ sở, nhưng đề nghị phân định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước của UBND với vai trò phối hợp, tuyên truyền, vận động và giám sát của Mặt trận.

Về khoản 2 Điều 33, đại biểu cho rằng việc huy động hội viên các tổ chức thành viên của Mặt trận tham gia hòa giải là quá rộng, khó lựa chọn lực lượng. Do đó, đại biểu đề nghị theo hướng các tổ chức thành viên của Mặt trận trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình thực hiện hoạt động hòa giải ở cơ sở theo quy định của pháp luật; đồng thời phát hiện, giới thiệu hội viên đủ tiêu chuẩn, có uy tín tham gia hòa giải ở cơ sở và làm hòa giải viên.

Từ các ý kiến trên có thể thấy, các đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng đều đặt trọng tâm vào tính khả thi của dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi). Từ bảo đảm nguồn lực, tổ chức bộ máy, phát huy vai trò người có uy tín đến ứng dụng công nghệ số, các kiến nghị đều hướng tới mục tiêu để hòa giải thực sự trở thành phương thức giải quyết mâu thuẫn hiệu quả ngay từ cơ sở, góp phần giữ gìn đoàn kết trong cộng đồng, hạn chế tranh chấp phát sinh thành những vụ việc phức tạp.

Ngọc Diệp