Đoàn đại biểu Quốc hội - HĐND

Tháo gỡ điểm nghẽn, tạo động lực phát triển đô thị

Ngọc Diệp 11/08/2026 14:42

Sáng 11/8, tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ lần thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật Phát triển đô thị.

202608110901177782_1786413458881_6935599001901914730_g3194982797251543164_7e21c4c5634e9a0ea2920e70863189c3 (1)
Quang cảnh phiên thảo luận tại hội trường sáng 11/8

Đóng góp ý kiến vào dự án Luật Phát triển đô thị, các ĐBQH tỉnh Lâm Đồng tập trung vào cơ chế phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng, quản lý tín chỉ các-bon, cơ chế đối với dự án lớn, quan trọng và các chính sách về văn hóa, xã hội, an sinh, nhà ở, di sản trong quá trình phát triển đô thị.

202608110901177001_1786413082771_2162376588907177512_g3194982797251543164_726c674f452772068196343cf916a505.jpg
Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định điều hành phiên thảo luận

Mở rộng phạm vi TOD, làm rõ cơ chế dự án lớn, quan trọng

Đại biểu Dương Khắc Mai, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng đánh giá cao nỗ lực của cơ quan chủ trì soạn thảo và các cơ quan có liên quan; đồng thời đồng ý với nhiều nội dung trong báo cáo thẩm tra và đánh giá tích cực báo cáo tiếp thu, giải trình bước đầu.

Đại biểu ủng hộ việc Quốc hội thông qua dự án luật trong kỳ họp lần này, đồng thời tập trung góp ý vào phạm vi mô hình phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD) và cơ chế đối với dự án lớn, quan trọng.

1786425994429_8342690962916268505_8342690962916268505_77bdc96d2094f5ed55db3a73e6279817.jpg
Đại biểu Dương Khắc Mai, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng phát biểu tại phiên thảo luận

Về TOD tại khoản 9, khoản 10 Điều 2 và Điều 13, đại biểu thống nhất với việc dự thảo quy định cơ chế, chính sách riêng về phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng. Theo đại biểu, đây là công cụ quan trọng để tổ chức phát triển đô thị gắn với hạ tầng giao thông, khai thác hiệu quả quỹ đất và huy động nguồn lực đầu tư. Tuy nhiên, đại biểu cho rằng, khoản 9 Điều 2 hiện xác định TOD là giải pháp lấy điểm kết nối giao thông đường sắt làm trung tâm; khoản 10 tiếp tục xác định khu vực TOD bao gồm nhà ga, đề-pô đường sắt và vùng phụ cận. Như vậy, khái niệm TOD trong dự thảo về cơ bản đang được thiết kế gắn riêng cho đường sắt.

Từ thực tiễn phát triển đô thị, đại biểu cho rằng, nhu cầu tổ chức không gian theo định hướng giao thông công cộng có thể đặt ra tại các đầu mối giao thông công cộng có năng lực vận chuyển lớn và khả năng kết nối nhiều phương thức giao thông.

Đối với tỉnh Lâm Đồng, đại biểu cho biết, địa phương cũng đã xác định định hướng từng bước triển khai TOD tại các đầu mối giao thông lớn như ga đường sắt tốc độ cao, nút giao cao tốc và các hành lang kinh tế quan trọng. Vì vậy, đại biểu đề nghị nghiên cứu, chỉnh lý khoản 9 và khoản 10 Điều 2 theo hướng xác định TOD lấy đầu mối giao thông công cộng có năng lực vận chuyển lớn làm trung tâm, trong đó đường sắt là loại hình chủ yếu, thay vì giới hạn duy nhất ở đường sắt.

“Cách quy định này sẽ làm tăng tính bao quát, ổn định của luật và tạo cơ sở để địa phương lựa chọn mô hình phù hợp với cấu trúc đô thị cùng hệ thống giao thông thực tế”, đại biểu nhấn mạnh.

202608110919059567_1786414763899_2162376588907177512_g3194982797251543164_164c4f3e7823908d34e9ea0dc8d507c9.jpg
Các đại biểu tham dự

Đối với cơ chế dành cho dự án lớn, quan trọng tại khoản 2 Điều 2, Điều 15 và Điều 33, đại biểu thống nhất với chủ trương thiết kế cơ chế đặc thù để rút ngắn thủ tục, đẩy nhanh tiến độ đối với các dự án lớn, quan trọng. Tuy nhiên, đại biểu đề nghị làm rõ cụm từ “dự án đầu tư cần triển khai ngay”, bởi dự thảo chưa quy định căn cứ, tiêu chí và chủ thể xác định thế nào là “cần triển khai ngay”.

Theo đại biểu, khi xác định dự án thuộc nhóm này sẽ kéo theo khả năng được bỏ thủ tục quyết định chủ trương đầu tư hoặc được áp dụng cơ chế lựa chọn đặc biệt. Do đó, tiêu chí áp dụng cần đủ rõ để tránh mở rộng tùy nghi. Đại biểu cũng đề nghị làm rõ mối quan hệ giữa khoản 2 Điều 15 và Điều 33. Trong đó, cần quy định rõ nguyên tắc ưu tiên áp dụng, trường hợp nào được bỏ thủ tục quyết định chủ trương đầu tư theo Điều 15 và trường hợp nào vẫn phải thực hiện quyết định chủ trương đầu tư theo Điều 33.

Theo đại biểu, việc làm rõ ngay trong luật sẽ tránh các cách hiểu khác nhau và bảo đảm phân định rõ trách nhiệm giữa HĐND thành phố với Chủ tịch UBND thành phố.

Phát triển đô thị phải gắn với chất lượng cuộc sống

Đại biểu Lâm Văn Đoan, Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng bày tỏ tán thành việc ban hành Luật Phát triển đô thị, đồng thời đánh giá cao nỗ lực của Chính phủ, Bộ Tư pháp, Ủy ban Pháp luật và Ủy ban Tư pháp trong xây dựng, thẩm tra dự án luật.

202608110901177938_1786413460664_6935599001901914730_g3194982797251543164_16c19de105a81d9bd39b5daccd1bd0fc.jpg
Quang cảnh phiên thảo luận sáng 11/8

Góp ý về phát triển văn hóa, xã hội, con người của đô thị, đại biểu cho rằng, sự phát triển đô thị không chỉ được đo bằng tăng trưởng kinh tế hay các cơ chế đặc thù về kinh tế, mà còn phải được đánh giá bằng chất lượng cuộc sống của người dân và các cơ chế đặc thù về xã hội.

Theo đại biểu, dự thảo luật hiện nghiêng nhiều về đầu tư, tài chính, đất đai, trong khi nội dung phát triển bền vững về xã hội còn ít. Một đô thị mạnh không chỉ nằm ở GRDP hay số thu ngân sách mà còn ở khả năng đáp ứng nhu cầu về trường học, bệnh viện, nhà ở của các tầng lớp Nhân dân.

1786425994422_8342690962916268505_8342690962916268505_60a7e8b552958dfb1acaa1b5197d44a4.jpg
Đại biểu Lâm Văn Đoan, Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng nêu ý kiến tại phiên thảo luận

Đại biểu đề nghị bổ sung tại Điều 2 khái niệm “đô thị đặc biệt” kèm theo các tiêu chí phát triển xã hội bền vững như quy mô, mật độ dân số, năng lực cung ứng dịch vụ giáo dục, y tế, văn hóa; đồng thời bổ sung nguyên tắc phát triển kinh tế phải gắn với trách nhiệm bảo đảm dịch vụ xã hội cơ bản cho mọi người dân, kể cả người di cư.

Đại biểu cũng đề nghị thành phố xây dựng, định kỳ báo cáo một bộ chỉ số phát triển xã hội bền vững tại Điều 59. Về an sinh xã hội, đại biểu đánh giá cao việc dự thảo quan tâm đến nhà ở cho người lao động. Tuy nhiên, đặc thù của TP Hồ Chí Minh là có đông người lao động tự do, bán hàng rong, chạy xe công nghệ, người làm thuê không hợp đồng. Đây là những nhóm dễ bị tổn thương nhưng thường nằm ngoài lưới an sinh. Đại biểu đề nghị sửa Điều 27 khoản 1 điểm đ theo hướng có quy định cụ thể hơn để thành phố có cơ chế đưa người lao động tự do, lao động di cư, người lao động khu vực phi chính thức tham gia lưới an sinh.

202608110901178563_1786413475477_6935599001901914730_g3194982797251543164_ff1ef8571c2fc393edcb596972c4a4fa.jpg
Các đại biểu tham dự

Đồng thời, cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền tiếp cận nhà ở, hạ tầng, dịch vụ công cơ bản theo nơi cư trú thực tế. “Bởi gốc của sự phát triển là phục vụ cho người dân đang sống ở đó, chứ không phải theo giấy tờ cư trú”.

Về bảo tồn di sản, đại biểu Lâm Văn Đoan cho rằng, việc cho phép hợp tác công tư trong quản lý, khai thác di tích, công trình kiến trúc có giá trị là chủ trương đúng, nhưng cần có cơ chế quản lý phù hợp để tránh nguy cơ di sản bị biến thành điểm kinh doanh thuần túy, trong khi cộng đồng gắn bó với di sản bị đẩy ra khỏi không gian đó. Đại biểu đề nghị bổ sung điều kiện việc hợp tác công tư khai thác di tích phải giữ nguyên giá trị, công năng cốt lõi, bảo đảm cộng đồng được tiếp cận và có sự tham gia, đồng thuận của người dân ở sở tại.

“Bảo đảm làm mới đô thị nhưng phải giữ được hồn cốt văn hóa”, đại biểu Đoan nói.

Đối với nguyên tắc thu hồi đất, đại biểu đề nghị người dân phải có chỗ ở mới tốt hơn và có việc làm mới phù hợp ngay tại nơi ở mới. Theo đó, các quy định liên quan cần bảo đảm phát triển hạ tầng xã hội trong quá trình chỉnh trang, phát triển đô thị.

Cần kiểm soát chặt giao dịch tín chỉ các-bon

Góp ý về cơ chế thực hiện các biện pháp giảm phát thải khí nhà kính thông qua trao đổi, bù trừ tín chỉ các-bon tại khoản 4 Điều 46, đại biểu Trịnh Thị Tú Anh, Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng đánh giá cao việc dự thảo dành một cơ chế riêng cho việc hình thành và giao dịch tín chỉ các-bon tại khu kinh tế đặc biệt.

Theo đại biểu, nếu được thiết kế phù hợp, cơ chế này không chỉ tạo thêm nguồn lực cho các dự án giảm phát thải mà còn hình thành cơ chế tài chính để tái đầu tư cho tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn và ứng phó với biến đổi khí hậu.

202608110811002967_img_1786410669490_1786410804411.jpg
Các đại biểu tham dự phiên họp

Đại biểu đặc biệt ghi nhận quy định cho phép tín chỉ các-bon hình thành từ các chương trình, dự án sử dụng vốn ngân sách được giao dịch với nhà đầu tư trong nước và quốc tế, đồng thời để lại 100% nguồn thu cho ngân sách địa phương để tái đầu tư cho các mục tiêu xanh. Tuy nhiên, theo đại biểu, đây cũng là nội dung cần được quy định chặt chẽ bởi tín chỉ các-bon trong trường hợp này không chỉ là hàng hóa có thể giao dịch mà còn gắn với kết quả giảm phát thải của quốc gia và nguồn lực được hình thành từ đầu tư công.

1786430577412_8342690962916268505_8342690962916268505_8cd4f25a664c82c2ffbc8421add91f0e.jpg
Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh, Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng phát biểu tại phiên thảo luận

Trước hết, đại biểu đề nghị làm rõ quyền và chế độ quản lý đối với tín chỉ các-bon được hình thành từ nguồn vốn ngân sách nhà nước. Khi Nhà nước sử dụng nguồn lực công để thực hiện chương trình, dự án tạo ra kết quả giảm phát thải hoặc hấp thụ khí nhà kính, cần xác định rõ chủ thể có quyền đại diện, quản lý và quyết định việc giao dịch tín chỉ; đồng thời quy định cơ chế định giá, thẩm quyền phê duyệt và phương thức chuyển nhượng.

Đại biểu cũng lưu ý cần tránh khoảng trống pháp lý trong trường hợp kết quả giảm phát thải được tạo ra từ tài sản, dự án hoặc nguồn vốn thuộc khu vực công nhưng lại được đưa vào giao dịch với nhà đầu tư tư nhân hoặc nhà đầu tư nước ngoài.

Một vấn đề quan trọng khác được đại biểu Trịnh Thị Tú Anh nhấn mạnh là cần thiết lập cơ chế hạch toán và đối soát ở cấp quốc gia để kiểm soát tình trạng tính hai lần. Theo đại biểu, việc chỉ xác định tỷ lệ đóng góp về lượng giảm phát thải, hấp thụ khí nhà kính ở cấp địa phương là chưa đủ. Cần bổ sung yêu cầu đăng ký, theo dõi, kết nối và đối soát dữ liệu với hệ thống đăng ký tín chỉ các-bon quốc gia theo quy định của pháp luật, bảo đảm mỗi đơn vị kết quả giảm phát thải được xác định rõ nguồn gốc, chủ thể quản lý, tình trạng giao dịch và mục đích sử dụng.

Đại biểu cho rằng, đây là điều kiện quan trọng để ngăn ngừa tình trạng cùng một kết quả giảm phát thải vừa được tính vào mục tiêu giảm phát thải của Việt Nam, vừa được chuyển giao cho chủ thể khác để sử dụng cho mục tiêu giảm phát thải của họ. Đối với giao dịch với nhà đầu tư quốc tế, đại biểu đề nghị quy định rõ điều kiện, trình tự, thẩm quyền phê duyệt và trách nhiệm quản lý của các cơ quan nhà nước. Đồng thời, cần phân biệt rõ giao dịch tín chỉ các-bon quốc tế thông thường với chuyển giao quốc tế kết quả giảm nhẹ theo Điều 6.2 Thỏa thuận Paris.

Đại biểu lưu ý, trường hợp kết quả giảm nhẹ được Việt Nam cho phép chuyển giao quốc tế và được sử dụng theo cơ chế hợp tác quy định tại Điều 6.2 Thỏa thuận Paris thì đây là ITMO, phải tuân thủ các yêu cầu về ủy quyền, theo dõi, báo cáo và hạch toán, trong đó có cơ chế điều chỉnh tương ứng để bảo đảm không tính hai lần.

“Không phải mọi tín chỉ các-bon được giao dịch với nhà đầu tư nước ngoài đều đương nhiên là ITMO”, đại biểu chia sẻ.

Những góp ý của các ĐBQH tỉnh Lâm Đồng góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho phát triển đô thị theo hướng đồng bộ, hiện đại và bền vững. Qua đó, bảo đảm quá trình phát triển không chỉ tạo động lực tăng trưởng mà còn nâng cao chất lượng sống, giữ gìn các giá trị văn hóa và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân.

Ngọc Diệp