Người uy tín vận động Nhân dân bảo vệ, phát triển rừng
Lâm Đồng phát huy vai trò người có uy tín trong cộng đồng dân tộc thiểu số (DTTS) để vận động người dân cùng tham gia giữ rừng, gắn bảo vệ rừng với sinh kế bền vững.

Lan tỏa tinh thần giữ rừng
Giữa đại ngàn Tà Đùng, ông K’Măng, xã Đam Rông 1, cùng các thành viên tổ nhận khoán bảo vệ rừng vẫn đều đặn tuần tra những cánh rừng thuộc Vườn Quốc gia Tà Đùng.
Hơn 15 năm gắn bó với công tác bảo vệ rừng đã giúp ông K’Măng nhận biết những dấu hiệu bất thường. Từ dấu chân lạ đến vệt bánh xe mới xuất hiện, ông đều chú ý kiểm tra và báo cho lực lượng chức năng khi cần thiết.
Sinh năm 1974, ông K’Măng hiện là Tổ trưởng Tổ nhận khoán số 11, thuộc địa bàn quản lý của Trạm Bảo vệ rừng số 4. Với đồng bào Mạ ở Đam Rông 1, ông là người có uy tín. Với lực lượng quản lý, bảo vệ rừng, ông luôn là người sẵn sàng nhận phần việc khó.

Rừng Tà Đùng gần gũi như người thân. Khi nghe tin có người xâm nhập rừng, dù mưa gió hay đêm tối, mình cũng phải đi kiểm tra.
Ông K’Măng, xã Đam Rông 1, tỉnh Lâm Đồng
Không chỉ trực tiếp tuần tra, ông còn vận động người thân và bà con nâng cao ý thức giữ rừng. Tình yêu với rừng được ông truyền lại cho thế hệ trẻ trong gia đình. Con trai ông đang theo học ngành quản lý tài nguyên rừng với mong muốn tiếp tục đóng góp cho đại ngàn.
Tinh thần ấy cũng được tiếp nối ở thôn Đắk Som 2, xã Tà Đùng. Ông K’Bằng Ben Bửu (SN 1986), là người uy tín, đã có hơn 10 năm tham gia nhận khoán bảo vệ rừng. Nhóm của ông có 7 thành viên, mỗi hộ nhận khoán khoảng 31 ha.

Từ nhỏ, ông K’Bằng đã được nghe những câu chuyện về rừng thiêng Tà Đùng. Với người Mạ, rừng không chỉ cung cấp nguồn sống mà còn gắn với văn hóa và sự tồn tại của cộng đồng.
Theo ông K’Bằng, trước đây, khi rừng bị xâm hại, người dân trong làng từng thay phiên nhau lên rừng ngủ đêm. Khi phát hiện người phá rừng, họ đánh chiêng, đốt lửa báo hiệu để cộng đồng cùng ứng phó. Khi lực lượng kiểm lâm về địa bàn, đồng bào tiếp tục phối hợp tuần tra, bảo vệ rừng.

Những kinh nghiệm ấy đang được tiếp nối trong cách người dân tham gia giữ rừng hôm nay. Từ đối tượng được tuyên truyền, người dân đang trở thành lực lượng trực tiếp tham gia giữ rừng.
Tại khu vực biên giới Quảng Trực, tinh thần ấy cũng được thể hiện rõ. Ông Điểu Bức (SN 1976), người có uy tín trong cộng đồng M’nông, tham gia bảo vệ rừng cho Công ty TNHH Lâm nghiệp Nam Tây Nguyên từ năm 2018. Tổ của ông nhận khoán khoảng 500 ha rừng với 5 thành viên.
Hằng tuần, các thành viên thay phiên nhau tuần tra. Những khu vực giáp ranh với nương rẫy được đặc biệt chú ý. Khi phát hiện dấu hiệu bất thường, tổ kịp thời báo cho trạm bảo vệ rừng để phối hợp xử lý.

Trước đây, đời sống bà con còn khó khăn nên nhận thức về rừng có lúc chưa đầy đủ. Bây giờ người dân hiểu hơn, ý thức cũng tốt hơn, tình trạng phá rừng giảm.
Ông Điểu Bức, xã Quảng Trực, tỉnh Lâm Đồng
Điểm chung ở những người có uy tín là họ không chỉ trực tiếp đi rừng mà còn làm cầu nối giữa chủ rừng, lực lượng chuyên trách và cộng đồng. Bằng tiếng nói gần gũi và uy tín được tạo dựng qua nhiều năm, họ vận động bà con không xâm hại rừng, không săn bắt động vật hoang dã và kịp thời thông tin khi phát hiện nguy cơ ảnh hưởng đến rừng.

Trao quyền để giữ rừng
Vườn Quốc gia Tà Đùng đang quản lý hơn 20.000 ha, trong đó hơn 16.000 ha đất có rừng. Giai đoạn 2021 - 2025, đơn vị triển khai khoán quản lý, bảo vệ hơn 3.000 ha mỗi năm, thu hút 148 hộ dân, chia thành 14 tổ, chủ yếu là đồng bào DTTS.
Theo Giám đốc Ban Quản lý Vườn Quốc gia Tà Đùng Khương Thanh Long, ngoài người Mạ, đồng bào Mông, Tày, Nùng, Cơ Ho và nhiều dân tộc khác cũng tham gia bảo vệ rừng. Trong đó, người có uy tín có ảnh hưởng lớn trong tuyên truyền, vận động cộng đồng.
Khi người dân hiểu giá trị của rừng và có sinh kế gắn với công tác bảo vệ, trách nhiệm giữ rừng cũng từng bước được nâng lên. Đây là một trong những nền tảng quan trọng để công tác bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng đạt hiệu quả lâu dài.

Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường, năm 2025, Lâm Đồng có hơn 1,16 triệu ha đất quy hoạch lâm nghiệp, chiếm khoảng 48% diện tích tự nhiên. Diện tích đất có rừng hơn 1,11 triệu ha, trong đó hơn 930.000 ha rừng tự nhiên và gần 183.000 ha rừng trồng.
Hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư đang quản lý khoảng 9.727 ha rừng. Dù chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng diện tích rừng toàn tỉnh, nhưng đây được xem là hướng đi quan trọng trong xã hội hóa nghề rừng. Việc giao rừng giúp xác lập rõ chủ thể quản lý, đồng thời gắn quyền lợi với trách nhiệm.
Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường đánh giá chủ trương xã hội hóa nghề rừng đã tạo chuyển biến căn bản trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Khi rừng có chủ thực sự, người dân và cộng đồng có điều kiện yên tâm quản lý, đầu tư phát triển rừng trên diện tích được giao.

Đáng chú ý, lợi ích kinh tế từ rừng từng bước được gắn với trách nhiệm bảo vệ, qua đó nâng cao ý thức, hạn chế phá rừng, lấn chiếm đất rừng và tạo động lực để cộng đồng tham gia giữ rừng.
Để người dân thực sự trở thành chủ thể giữ rừng, việc giao rừng, cho thuê rừng cần sự vào cuộc đồng bộ của chính quyền và các ngành. Quá trình này cũng cần sự thống nhất của người dân, cộng đồng địa phương, cùng với tuyên truyền, tập huấn để nâng cao năng lực quản lý, bảo vệ rừng.
Từ Tà Đùng đến Quảng Trực, thực tế cho thấy lực lượng chuyên trách khó có thể bảo vệ hiệu quả những cánh rừng rộng lớn nếu thiếu sự đồng hành của cộng đồng. Việc giao rừng tạo ra quyền lợi và trách nhiệm, nhưng để quyền lợi và trách nhiệm ấy trở thành hành động thường xuyên, cộng đồng cần những người có uy tín để vận động, thuyết phục và làm gương.

Từ những người như K’Măng, K’Bằng hay Điểu Bức, việc giữ rừng đang dần trở thành công việc của chính cộng đồng sống bên rừng. Khi người dân thực sự trở thành chủ thể, giữ rừng không còn là nhiệm vụ riêng của chủ rừng mà trở thành trách nhiệm chung của cả cộng đồng.