Chính phủ đề xuất hợp nhất Luật Ngân sách nhà nước và Luật Đầu tư công
Việc hợp nhất Luật Ngân sách nhà nước và Luật Đầu tư công nhằm xây dựng một cơ chế quản lý tài chính công đồng bộ, thống nhất; giảm tối đa trình tự, thủ tục, thời gian và chi phí tuân thủ cho các cấp, các ngành; huy động, quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn lực ngân sách nhà nước phục vụ mục tiêu tăng trưởng.

Tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, sáng 19/8, Quốc hội họp phiên toàn thể ở hội trường nghe tờ trình và báo cáo ý kiến về định hướng xây dựng dự án Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất).
Kế thừa tối đa các quy định hiện hành đang phát huy hiệu quả
Tờ trình do Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn trình bày nêu rõ, Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 và Luật Đầu tư công năm 2024 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đã được sửa đổi căn bản trong thời gian qua, nhằm thể chế hóa kịp thời các Nghị quyết, Kết luận của Đảng; bảo đảm vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương và chủ động của ngân sách địa phương, xử lý các vấn đề về chính quyền địa phương 2 cấp; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, bãi bỏ các nội dung không còn phù hợp thực tiễn, tháo gỡ các điểm nghẽn trong đầu tư công...
Tuy nhiên, việc tồn tại đồng thời 2 Luật vẫn còn có những bất cập, hạn chế như việc giao thoa về thẩm quyền, hồ sơ, trình tự, thời hạn giữa quy trình dự toán ngân sách nhà nước và kế hoạch đầu tư công, dẫn đến trùng lắp trong quy trình, thủ tục quản lý vốn đầu tư công; chưa có chế tài gắn kết chặt chẽ giữa Kế hoạch tài chính 5 năm và Kế hoạch đầu tư công trung hạn. Một số nội dung còn chưa thống nhất giữa 2 Luật về thẩm quyền phân bổ, giao dự toán/kế hoạch vốn, chuyển nguồn và thời hạn chuyển nguồn.
Vì vậy, việc hợp nhất Luật Ngân sách nhà nước và Luật Đầu tư công là cần thiết nhằm xây dựng một cơ chế quản lý tài chính công đồng bộ, thống nhất; giảm tối đa trình tự, thủ tục, thời gian và chi phí tuân thủ cho các cấp, các ngành; huy động, quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn lực ngân sách nhà nước phục vụ mục tiêu tăng trưởng.

Theo Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, dự án Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất) được xây dựng trên nguyên tắc kế thừa tối đa các quy định hiện hành đã được đánh giá là hiệu quả trong triển khai, có tinh chỉnh để phù hợp với tinh thần lồng ghép, hợp nhất và yêu cầu thực tiễn để giảm thiểu thủ tục hành chính.
Dự thảo Luật dự kiến có 10 chương và 102 điều, tập trung vào một số định hướng chính, gồm: hợp nhất Kế hoạch tài chính 5 năm và dự toán ngân sách nhà nước với Kế hoạch đầu tư công;kế thừa, sửa đổi, bổ sung, đồng bộ quyền hạn, trách nhiệm của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, cơ quan, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp, các cơ quan, đơn vị về đầu tư công.
Cùng đó là giao Chính phủ quy định chi tiết các nội dung để chủ động, linh hoạt trong điều hành, như: tiêu chí và điều chỉnh tiêu chí phân loại dự án nhóm A, B, C; trình tự, thủ tục quyết định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư chương trình, dự án (trừ các chương trình, dự án thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội); sửa đổi một số nội dung về quản lý ngân sách nhà nước để đáp ứng yêu cầu thực tiễn, như: phân bổ và sử dụng số tăng thu ngân sách nhà nước trong quá trình điều hành; sử dụng dự phòng, dự trữ tài chính, tăng thu và dự toán chi còn lại để bổ sung chi ứng phó, khắc phục tình trạng khẩn cấp vì lợi ích quốc gia...
Việc hợp nhất phải bảo đảm thực sự khắc phục bất cập, chồng chéo giữa 2 luật
Trình bày báo cáo ý kiến về nội dung này, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Nguyễn Ngọc Bảo cho biết, Ủy ban Kinh tế và Tài chính tán thành với sự cần thiết, căn cứ chính trị, cơ sở pháp lý, căn cứ thực tiễn ban hành Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất) đã được nêu trong Tờ trình của Chính phủ.
Tuy nhiên, đề nghị việc hợp nhất 2 luật cần được đặt trong tổng thể đổi mới cơ chế quản lý ngân sách nhà nước và đầu tư công, bảo đảm phải thực sự khắc phục sự giao thoa, bất cập, chồng chéo giữa 2 luật, đồng thời quy định thống nhất quy trình quản lý, lập dự toán, phân bổ, thực hiện, quyết toán ngân sách nhà nước và đầu tư công.
Về một số nội dung cụ thể, Ủy ban Kinh tế và Tài chính cơ bản nhất trí việc tích hợp kế hoạch đầu tư công 5 năm vào kế hoạch tài chính 5 năm; chủ trương thống nhất quy trình phân bổ và giao dự toán chi ngân sách nhà nước với việc giao kế hoạch đầu tư công hằng năm; chủ trương Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành một nghị quyết chung về tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách nhà nước, đồng bộ giữa phân bổ chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên.

Bên cạnh đó, đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục rà soát, hoàn thiện quy định về tích hợp kế hoạch tài chính và kế hoạch đầu tư công 5 năm; quy trình lập dự toán, phân bổ, giao dự toán, quản lý dự toán gắn với danh mục dự án đầu tư công trung hạn và hằng năm sau khi hợp nhất.
Đa số ý kiến Ủy ban Kinh tế và Tài chính nhất trí quy định trong dự thảo Luật tiêu chí, trình tự, thủ tục Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia, dự án quan trọng quốc gia. Đối với dự án nhóm A, B, C giao Chính phủ quy định chi tiết nhằm bảo đảm tính chủ động, linh hoạt trong quá trình tổ chức thực hiện. Một số ý kiến đề nghị cân nhắc tiếp tục quy định trong Luật các nguyên tắc, tiêu chí cơ bản và những nội dung làm căn cứ xác định thẩm quyền của các cơ quan, tổ chức.
Các ý kiến trong Ủy ban cũng cơ bản thống nhất với chủ trương giao Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp được phân bổ, sử dụng số tăng thu trong quá trình chấp hành ngân sách nhằm nâng cao tính chủ động trong điều hành ngân sách và kịp thời sử dụng nguồn tăng thu, tiết kiệm chi đã được xác định chắc chắn để phục vụ phát triển kinh tế-xã hội. Tuy nhiên, đề nghị nghiên cứu quy định chặt chẽ hơn về điều kiện áp dụng.
Về cơ chế kiểm soát, đánh giá hiệu quả đầu tư công, theo Ủy ban Kinh tế và Tài chính, dự thảo mới chỉ quy định chung nội dung phải đánh giá hiệu quả kinh tế-xã hội, chưa quy định rõ tiêu chí, nguyên tắc đánh giá. Do đó, đề nghị nghiên cứu hoàn thiện theo hướng quy định rõ hơn về hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư đối với dự án đầu tư; trách nhiệm của cơ quan, người quyết định đầu tư và chủ đầu tư trong việc bảo đảm hiệu quả đầu tư; cơ chế đánh giá sau khi dự án hoàn thành, đưa vào khai thác, sử dụng và công khai kết quả đánh giá; trách nhiệm đối với các trường hợp dự án không đạt mục tiêu hoặc hiệu quả thấp. Trên cơ sở đó, giao Chính phủ quy định chi tiết để tổ chức thực hiện thống nhất.