Đoàn đại biểu Quốc hội - HĐND

Để nguồn lực đến đúng nơi, đúng đối tượng, tạo chuyển biến thực chất

Ngọc Diệp 20/08/2026 15:01

Tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, sáng 20/8, Quốc hội thảo luận tại hội trường về chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035.

Toàn cảnh Hội trường Diên Hồng sáng 20-8
Toàn cảnh Hội trường Diên Hồng sáng 20/8

Phát biểu tại hội trường, các đại biểu Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng thống nhất cao với sự cần thiết hợp nhất các chương trình mục tiêu quốc gia, đồng thời đề nghị hoàn thiện cơ chế phân bổ, giám sát và phân cấp để nguồn lực thực sự đến đúng địa bàn, đúng đối tượng, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Không để việc hợp nhất làm giảm mức độ ưu tiên đối với vùng khó khăn

Đại biểu Dương Khắc Mai, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng, cho rằng việc hợp nhất 4 Chương trình mục tiêu quốc gia là cần thiết, góp phần thu gọn đầu mối quản lý, tăng khả năng lồng ghép nguồn lực và đơn giản hóa thủ tục. Tuy nhiên, việc tích hợp cần được thực hiện thực chất, không làm thay đổi, thu hẹp mục tiêu, đối tượng thụ hưởng cốt lõi, quyền lợi và mức độ ưu tiên đã được Quốc hội quyết định.

img_0140.jpeg
Đại biểu Dương Khắc Mai, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng phát biểu tại nghị trường

Theo đại biểu, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế theo dõi riêng nguồn lực, số đối tượng thụ hưởng, mức hỗ trợ và kết quả thực hiện đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Đồng thời, việc phân cấp, điều chỉnh nguồn lực phải bảo đảm không làm giảm các chính sách bắt buộc hoặc mức ưu tiên dành cho những địa bàn còn nhiều khó khăn.

Đại biểu Dương Khắc Mai cũng đề nghị hoàn thiện bảng đối chiếu cụ thể đối với 4 chương trình trước đây, làm rõ từng mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ, nguồn lực và sản phẩm đầu ra. Theo đó, cần xác định nội dung nào tiếp tục thực hiện, nội dung nào tích hợp, nội dung nào loại bỏ do trùng lặp hoặc chuyển thành nhiệm vụ chi thường xuyên. Việc lượng hóa số nhiệm vụ, thủ tục, đầu mối và quy mô kinh phí được hợp nhất, cắt giảm sẽ là cơ sở để đánh giá việc tích hợp có thực chất hay không.

Một vấn đề khác được đại biểu Dương Khắc Mai lưu ý là tổng nguồn lực và cơ cấu các nguồn vốn. Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội xác định tổng nguồn lực giai đoạn 2026 - 2030 dự kiến 808.558 tỷ đồng, trong khi tổng ngân sách Trung ương của 4 chương trình trước khi hợp nhất là 345.000 tỷ đồng, gồm 244.200 tỷ đồng vốn đầu tư công và 100.800 tỷ đồng kinh phí thường xuyên.

1k0f0d4ak_bsemim.jpeg
Các đại biểu tham dự

Trong khi đó, dự kiến cơ cấu nguồn vốn theo Nghị quyết của Chính phủ là 260.000 tỷ đồng vốn đầu tư công và 85.000 tỷ đồng kinh phí thường xuyên. Ngoài ra, 20.429 tỷ đồng vốn đối ứng của các cơ sở giáo dục đại học, trường cao đẳng được dự kiến gộp trong nhóm nguồn vốn huy động hợp pháp khác. Từ đó, đại biểu đề nghị làm rõ căn cứ, tính chất từng nguồn vốn, trách nhiệm bố trí cũng như tác động của những thay đổi này đối với khả năng hoàn thành các mục tiêu đã được Quốc hội quyết định. Đồng thời, cần thống nhất cách xác định tổng nguồn lực là “dự kiến” hay “tối thiểu” giữa Nghị quyết của Quốc hội và Nghị quyết của Chính phủ, tránh khác nhau ngay từ căn cứ triển khai.

Đối với nguyên tắc phân bổ ngân sách, đại biểu Dương Khắc Mai đánh giá việc ưu tiên nguồn lực cho xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, an toàn khu, biên giới, hải đảo là phù hợp. Tuy nhiên, tiêu chí khả năng cân đối ngân sách và ngưỡng địa phương nhận bổ sung cân đối từ 60% trở lên không nên áp dụng một cách cơ học.

Bởi trên thực tế, một địa phương tự cân đối được ngân sách vẫn có thể tồn tại những xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới hoặc nhóm dân cư thiếu hụt nghiêm trọng các dịch vụ xã hội cơ bản. Do đó, vốn đối ứng của địa phương cần phù hợp với năng lực tài chính, không trở thành điều kiện khiến các địa phương khó khăn mất khả năng tiếp cận nguồn vốn Trung ương.

Bên cạnh đó, đại biểu đề nghị chương trình được quản lý theo kết quả đầu ra, trong đó hệ thống dữ liệu phải có khả năng phân tách theo nhóm mục tiêu, lĩnh vực, nguồn vốn, địa bàn và đối tượng thụ hưởng. Đặc biệt, cần theo dõi riêng nguồn lực và kết quả đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

“Đây là điều kiện để Quốc hội và các cơ quan giám sát đánh giá hiệu quả chính sách thay vì chủ yếu dựa vào tỷ lệ giải ngân”, đại biểu Dương Khắc Mai nhấn mạnh.

Các đại biểu tham dự Phiên họp a
Các đại biểu tham dự Phiên họp

Về phân cấp, phân quyền, đại biểu tán thành việc trao cho địa phương quyền chủ động lựa chọn danh mục, thứ tự ưu tiên, phân bổ và điều chỉnh chi tiết trong khung chương trình. Tuy nhiên, quyền chủ động phải đi kèm điều kiện và cơ chế kiểm soát tương ứng.

Theo đó, cần làm rõ thẩm quyền giữa Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cấp xã; chỉ phân cấp cho cấp xã khi đáp ứng các yêu cầu tối thiểu về nhân lực, năng lực quản lý dự án, ngân sách, dữ liệu và kiểm soát nội bộ. Địa phương chưa đáp ứng điều kiện thì cấp tỉnh cần trực tiếp thực hiện hoặc có cơ chế hỗ trợ kỹ thuật trong thời gian chuyển tiếp.

Đưa chính sách thành kết quả thụ hưởng thực tế của người dân

Cùng tham gia thảo luận, đại biểu Cil Bri, Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng, cơ bản thống nhất với việc ban hành Nghị quyết phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia trên cơ sở hợp nhất 4 chương trình hiện hành. Đại biểu đánh giá việc thu gọn đầu mối quản lý, tăng khả năng lồng ghép nguồn lực, đơn giản hóa thủ tục và đẩy mạnh phân cấp cho địa phương là cần thiết.

1787213142187_3282026136343939041_3282026136343939041_3bc3dff312cf1c11d4816a8621d93fd9.jpg
Đại biểu Cil Bri, Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng tham gia thảo luận

Từ thực tiễn Lâm Đồng, đại biểu tập trung góp ý hai nội dung, trong đó nhấn mạnh nguyên tắc phân bổ ngân sách và việc phân cấp cho cấp xã.

Đối với phân bổ ngân sách, đại biểu đánh giá cao quy định theo hướng đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, không manh mún, dàn trải và “tập trung ưu tiên phân bổ ngân sách nhà nước ở mức cao nhất” cho các xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, an toàn khu, biên giới, hải đảo.

Tuy nhiên, theo đại biểu, điều quan trọng là nguyên tắc “ưu tiên ở mức cao nhất” phải được chuyển hóa thành mức độ thụ hưởng thực tế của người dân. Nếu chỉ đánh giá hiệu quả thông qua số vốn phân bổ, tỷ lệ giải ngân hoặc số lượng công trình hoàn thành thì vẫn có nguy cơ nguồn lực tập trung vào những nhiệm vụ dễ triển khai, trong khi những nhu cầu khó nhưng trực tiếp quyết định đời sống người dân như nước sinh hoạt, sinh kế, hỗ trợ sản xuất và khả năng vận hành bền vững của công trình chưa được phản ánh đầy đủ.

Đại biểu dẫn thực tế tại Lâm Đồng: toàn tỉnh hiện có 627 công trình cấp nước tập trung khu vực nông thôn, nhưng có 292 công trình không hoạt động, chiếm 46,57%. Tỷ lệ hộ nông thôn sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn của Bộ Y tế là 58,70%, trong khi đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số mới đạt 33,73%.

Theo đại biểu, thực tế này cho thấy việc đầu tư công trình chưa đồng nghĩa với người dân đã được thụ hưởng dịch vụ; hoàn thành đầu tư cũng chưa đồng nghĩa với công trình vận hành hiệu quả, bền vững.

Từ đó, đại biểu đề nghị hoàn thiện tiêu chí phân bổ và tiêu chí đánh giá kết quả theo hướng phản ánh rõ hơn mức độ thụ hưởng thực tế của người dân, không chỉ dừng ở nhu cầu vốn và kết quả giải ngân. Đối với nước sinh hoạt, cần quan tâm tỷ lệ người dân thực tế được sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn, tỷ lệ công trình hoạt động ổn định, bền vững. Với các chương trình hỗ trợ sản xuất, sinh kế, cần gắn với kết quả về việc làm, thu nhập và khả năng duy trì sinh kế sau hỗ trợ.

Các đại biểu tham dự Phiên họp
Các đại biểu tham dự Phiên họp

Đại biểu cũng đề nghị xác định rõ trách nhiệm và nguồn kinh phí cho quản lý, vận hành, duy tu, bảo dưỡng công trình sau đầu tư, nhất là tại những địa bàn khó khăn, tránh tình trạng đầu tư xong nhưng công trình không được vận hành hoặc xuống cấp, làm giảm hiệu quả nguồn lực của chương trình.

Về phân cấp cho cấp xã, đại biểu Cil Bri đồng tình với chủ trương tăng quyền chủ động cho cơ sở. Tuy nhiên, theo đại biểu, cụm từ “phù hợp với năng lực, điều kiện thực tiễn” cần được gắn với cơ chế đánh giá và rà soát cụ thể, bởi năng lực tổ chức thực hiện giữa các xã, cũng như giữa các nhóm nhiệm vụ, còn khác nhau.

Thực tiễn tại Lâm Đồng cho thấy, sau khi các quyết định phân bổ vốn năm 2026 và kế hoạch đầu tư công trung hạn được ban hành vào cuối tháng 7/2026, nhiều nhiệm vụ ở cấp xã vẫn đang phải rà soát đối tượng, danh mục dự án, lập dự toán và hoàn thiện thủ tục. Trong khi đó, năng lực tổ chức thực hiện của một bộ phận cán bộ cấp xã chưa đồng đều; việc sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp cũng làm thay đổi đầu mối, địa bàn, hồ sơ và chủ đầu tư.

Đại biểu cảnh báo, nếu phân cấp mạnh nhưng không đồng thời xác định rõ điều kiện thực hiện, điểm nghẽn có thể chỉ chuyển từ cấp trên xuống cấp xã, thậm chí làm phát sinh tâm lý e ngại, sợ sai và kéo dài thời gian đưa nguồn lực đến người dân.

Vì vậy, đại biểu đề nghị việc phân cấp cho cấp xã phải căn cứ vào đánh giá năng lực thực hiện đối với từng nhóm nhiệm vụ, có cơ chế rà soát định kỳ và điều chỉnh phạm vi phân cấp khi cấp xã chưa đáp ứng điều kiện, nhưng không làm gián đoạn việc thực hiện chương trình. Đối với những nhiệm vụ cấp xã chưa đủ năng lực thực hiện, cấp tỉnh cần có trách nhiệm hỗ trợ hoặc tổ chức thực hiện phù hợp.

Hội trường Diên Hồng
Hội trường Diên Hồng

Đồng thời, Chính phủ cần tiếp tục chuẩn hóa quy trình, biểu mẫu, hồ sơ; tăng cường hướng dẫn kỹ thuật, đồng bộ cơ sở dữ liệu và đào tạo, bồi dưỡng theo vị trí việc làm, nhất là đối với cán bộ thực hiện nhiệm vụ tại các xã vùng sâu, vùng xa, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số.

Từ những kiến nghị trên, các đại biểu Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng cùng nhấn mạnh yêu cầu nguồn lực của chương trình sau hợp nhất phải được quản lý hiệu quả, phân bổ đúng trọng tâm và chuyển hóa thành kết quả thực chất. Trong đó, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi và các địa bàn đặc biệt khó khăn cần tiếp tục được ưu tiên, không chỉ trên giấy tờ hay ở tỷ lệ giải ngân, mà bằng những thay đổi cụ thể trong đời sống, sinh kế và khả năng tiếp cận các dịch vụ thiết yếu của người dân.

Ngọc Diệp