Emagazine-Longforms

Giữ rừng - giữ tương lai đại ngàn

Hoàng Sa 21/08/2026 05:38

Từ những cánh rừng dưới chân Lang Biang đến vùng đại ngàn Đam Rông, ngày càng nhiều đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ở Lâm Đồng tham gia nhận khoán bảo vệ rừng. Với họ, giữ rừng không chỉ là trách nhiệm với thiên nhiên mà còn là cách tạo thêm sinh kế, ổn định cuộc sống.

Giữ rừng

Từ những cánh rừng dưới chân Lang Biang đến vùng đại ngàn Đam Rông, ngày càng nhiều đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ở Lâm Đồng tham gia nhận khoán bảo vệ rừng. Với họ, giữ rừng không chỉ là trách nhiệm với thiên nhiên mà còn là cách tạo thêm sinh kế, ổn định cuộc sống.

a-dji_0692.png
Người có uy tín đã và đang góp phần lan tỏa phong trào giữ rừng đến cộng đồng
Bản sao của A D_Mẫu tít phụ có ảnh (6)

Một buổi sáng ở Trạm Quản lý bảo vệ rừng Đarahoa, thuộc Ban Quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Đa Nhim, sương vẫn còn phủ nhẹ trên những tán rừng. Con đường đất dẫn vào tiểu khu còn ẩm sau một đêm mưa. Những thành viên trong tổ tuần tra lần lượt kiểm tra dụng cụ, chuẩn bị cho hành trình xuyên rừng.

Không ồn ào, họ bắt đầu chuyến tuần tra như một công việc quen thuộc đã gắn bó với cuộc sống nhiều năm qua.

Giữ rừng (1)
Cán bộ và các hộ dân nhận khoán bảo vệ rừng tại Trạm Quản lý bảo vệ rừng Đarahoa trao đổi nội dung công việc trước chuyến đi tuần tra rừng

Trong số những người tham gia có anh Kra Jan Ju Mon, Tổ trưởng Tổ lực lượng dự bị động viên của trạm. Hơn 10 năm gắn bó với công việc giữ rừng, anh hiểu từng con đường mòn, từng khu vực rừng có nguy cơ xảy ra vi phạm.

Với anh, nhận khoán bảo vệ rừng trước hết là một công việc tạo thêm thu nhập cho gia đình. Nhưng càng gắn bó, anh càng nhận ra đây còn là trách nhiệm với cộng đồng, với chính nơi mình sinh sống.

Câu chuyện của anh Kra Jan Ju Mon cũng là tâm tư của nhiều hộ dân đang nhận khoán bảo vệ rừng trên địa bàn Lâm Đồng. Họ không còn nhìn cánh rừng đơn thuần là nơi cung cấp lâm sản mà ngày càng nhận thức rõ hơn giá trị lâu dài của rừng đối với cuộc sống.

a D_Mẫu phát ngôn PC-mobile (2)

Theo Ban Quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Đa Nhim, đơn vị hiện quản lý 40.689,3 ha rừng và đất lâm nghiệp tại 49 tiểu khu, thuộc địa bàn một phường và một xã. Trong đó, có hơn 23.176 ha rừng phòng hộ xung yếu và hơn 17.380 ha rừng sản xuất.

Năm 2026, đơn vị giao khoán quản lý, bảo vệ rừng theo chương trình chi trả dịch vụ môi trường rừng với tổng diện tích 36.315,9 ha cho 1.489 người thuộc 57 tổ hợp tác và 9 đơn vị tập thể.

Giữ rừng (2)
Sau sáp nhập, xã Lạc Dương có địa bàn rộng, tỷ lệ đồng bào DTTS cao, đời sống người dân gắn với việc tham gia nhận khoán bảo vệ rừng trên địa bàn

Những con số ấy cho thấy một lực lượng đông đảo người dân đang trực tiếp trở thành “cánh tay nối dài” của các đơn vị chủ rừng trong công tác bảo vệ rừng.

Từ những chuyến tuần tra định kỳ, phát hiện dấu vết xâm nhập rừng, ngăn chặn nguy cơ khai thác lâm sản trái phép đến việc phối hợp với lực lượng chức năng khi phát hiện vi phạm, người nhận khoán ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc bảo vệ từng khoảnh rừng.

Bản sao của A D_Mẫu tít phụ có ảnh (7)

Ở Đưng K’Nớ, câu chuyện giữ rừng của đồng bào Cơ Ho lại mang một sắc thái rất riêng.

Khoảng 95% dân số nơi đây là đồng bào DTTS Cơ Ho. Trước đây, cuộc sống còn nhiều khó khăn, một bộ phận người dân từng vào rừng săn bắn, thu hái sản vật, thậm chí chặt phá rừng, lấn chiếm đất để sản xuất. Đã có trường hợp bị lực lượng chức năng khởi tố vì hành vi phá rừng.

Giữ rừng (3)
Tại khu vực Đưng K'Nớ, công tác tuần tra, kiểm tra rừng được các đơn vị phối hợp với các hộ nhận khoán duy trì thường xuyên, ít nhất 2 lần/tuần

Nhưng hôm nay, câu chuyện đã khác. Nhận thức của người dân về giá trị của rừng từng bước thay đổi. Rừng không còn được nhìn nhận như nguồn tài nguyên để khai thác trước mắt mà trở thành tài sản chung cần được bảo vệ để tạo dựng cuộc sống lâu dài.

Các đơn vị tiến hành trồng lại rừng thay thế trên diện tích được giải tỏa
Các đơn vị tiến hành trồng lại rừng thay thế trên diện tích được giải tỏa

Đặc biệt, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã tạo thêm động lực để người dân tham gia giữ rừng. Công sức tuần tra, bảo vệ những cánh rừng được quy đổi thành nguồn thu nhập, giúp các hộ có thêm điều kiện trang trải cuộc sống.

Ông Hoàng Văn Bang, Phó Trưởng Trạm Quản lý bảo vệ rừng Đưng K’Nớ chia sẻ, khi người dân nhận thấy bảo vệ rừng mang lại lợi ích thiết thực cho gia đình, họ tích cực tham gia hơn. Từ chỗ có thể xâm hại rừng vì nhu cầu mưu sinh, nhiều người nay trở thành những người trực tiếp đi tuần tra, phát hiện và ngăn chặn hành vi vi phạm.

Các đơn vị đẩy mạn ứng dụng thiết bị bay flycam để theo dõi biến động đất rừng trên lâm phần quản lý
Trạm QLBV rừng Đưng K’Nớ đẩy mạnh ứng dụng thiết bị bay flycam để theo dõi biến động đất rừng trên lâm phần quản lý

Sự thay đổi ấy có ý nghĩa lớn hơn một chính sách hỗ trợ sinh kế. Đó là quá trình biến người dân từ đối tượng cần tuyên truyền, vận động thành chủ thể tham gia bảo vệ tài nguyên.

Tại Ban Quản lý rừng phòng hộ Sêrêpôk, quy mô giao khoán cũng đang được mở rộng. Theo ông Nguyễn Trọng Mận, Trưởng Ban Quản lý rừng phòng hộ Sêrêpôk, theo Quyết định số 62/QĐ-UBND ngày 13/1/2020 của UBND tỉnh Lâm Đồng, đơn vị được giao quản lý hơn 50.852 ha rừng và đất lâm nghiệp tại 67 tiểu khu.

Sau khi tiếp nhận thêm diện tích từ Ban Quản lý rừng phòng hộ Đa Nhim, tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp đơn vị quản lý lên hơn 62.038 ha.

Đến nay, tổng diện tích giao khoán bảo vệ rừng thuộc chương trình chi trả dịch vụ môi trường rừng của đơn vị đạt 39.774,42 ha, với 1.121 hộ dân và 3 đơn vị tập thể tham gia.

Giữ rừng (4)
Các thành viên trong tổ dự bị động viên còn là lực lượng xung kích trong các đợt truy quét, giải tỏa lấn chiếm đất rừng trên địa bàn

Đáng chú ý, việc giao khoán không chỉ dừng ở ký hợp đồng. Các trạm quản lý bảo vệ rừng thường xuyên huy động lực lượng nhận khoán tổ chức tuần tra, kiểm tra lâm phần, tập trung vào những khu vực có nguy cơ xảy ra vi phạm cao. Đơn vị cũng thực hiện chi trả tiền tạm ứng theo quy định, qua đó tạo nguồn thu nhập ổn định hơn cho người nhận khoán.

Nguồn thu từ bảo vệ rừng tuy không phải khoản tiền lớn, nhưng đối với nhiều hộ dân vùng đồng bào DTTS, khoản thu nhập khoảng 20 - 25 triệu đồng/hộ/năm từ công việc nhận khoán bảo vệ rừng là sự hỗ trợ đáng kể.

Khoản tiền ấy góp phần trang trải cuộc sống, đầu tư sản xuất, chăm lo việc học của con cái và quan trọng hơn, tạo thêm động lực để người dân gắn sinh kế với giữ rừng. Khi rừng được bảo vệ, màu xanh được giữ lại và người dân cũng có thêm một điểm tựa để vươn lên.

Bản sao của A D_Mẫu tít phụ có ảnh (8)

Lâm Đồng có diện tích rừng lớn, địa hình rộng và phức tạp. Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, áp lực lên tài nguyên rừng vẫn còn hiện hữu.

Giữ rừng (5)
Hộ dân nhận khoán bảo vệ rừng Đa Nhim nhận cây giống, trồng lại thông trên các diện tích đất san gạt thuộc phạm vi quản lý

Tại địa bàn quản lý của Ban Quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Đa Nhim, các khu vực dọc Quốc lộ 27C, ĐT722 và nhiều tiểu khu thuộc phường Lang Biang - Đà Lạt, xã Lạc Dương, xã Đam Rông 4 được xác định là những nơi tiềm ẩn nguy cơ phá rừng, khai thác và vận chuyển lâm sản.

Các hộ dân được vận động ký cam kết không lấn chiếm, không xâm hại rừng trong quá trình canh tác nông nghiệp tại các khu vực giáp ranh
Các hộ dân được vận động ký cam kết không lấn chiếm, không xâm hại rừng trong quá trình canh tác nông nghiệp tại các khu vực giáp ranh

Trong bối cảnh đó, việc có thêm hàng ngàn người dân tham gia nhận khoán bảo vệ rừng tạo nên một mạng lưới bảo vệ rừng rộng khắp từ cơ sở.

Những người sống gần rừng chính là những người hiểu rừng nhất. Họ biết mùa nào rừng dễ xảy ra cháy, khu vực nào thường có người lạ ra vào, con đường nào dẫn sâu vào tiểu khu.

Các thành viên Tổ dự bị động viên tham gia quản lý, bảo vệ rừng tại Trạm Đạ Sar phát dọn thực bì, chăm sóc rừng trồng
Các thành viên tổ dự bị động viên tham gia quản lý, bảo vệ rừng tại Trạm Đạ Sar phát dọn thực bì, chăm sóc rừng trồng

Sự hiện diện thường xuyên của người dân trên lâm phần vì thế góp phần phát hiện sớm những dấu hiệu bất thường.

Nhưng sâu xa hơn, hiệu quả lớn nhất của chính sách giao khoán bảo vệ rừng chính là tạo dựng sự đồng thuận giữa người dân và lực lượng quản lý rừng.

Khi lợi ích của người dân gắn với sự tồn tại của rừng, trách nhiệm bảo vệ rừng không còn là nhiệm vụ riêng của các ban quản lý rừng hay lực lượng kiểm lâm. Nó trở thành việc chung của cộng đồng.

Ở Đưng K’Nớ, sự thay đổi từ những năm tháng khó khăn đến hôm nay là một minh chứng rõ nét.

Các thành viên trong Tổ dự bị động viên tham gia quản lý, bảo vệ rừng tuần tra tại các tiểu khu
Các thành viên trong tổ dự bị động viên tham gia quản lý, bảo vệ rừng tuần tra tại các tiểu khu trên địa bàn xã Lạc Dương

Những người từng phụ thuộc vào rừng theo cách khai thác tài nguyên nay đang góp sức giữ rừng, bởi họ hiểu rằng giá trị lớn nhất của rừng nằm ở khả năng nuôi dưỡng cuộc sống lâu dài.

Ở Đarahoa, những bước chân tuần tra của anh Kra Jan Ju Mon và các thành viên trong tổ tiếp tục đi sâu vào đại ngàn. Mỗi chuyến đi có thể chỉ là vài giờ, vài km đường rừng, nhưng phía sau đó là sự bình yên của những cánh rừng, là nguồn nước cho cộng đồng và là sinh kế của nhiều gia đình.

Giữ rừng vì thế không chỉ là giữ cây, giữ đất hay giữ màu xanh. Đó còn là giữ nguồn nước, giữ môi trường sống, giữ sinh kế và giữ cơ hội phát triển cho những thế hệ mai sau.

Chính quyền xã Đạ Tẻh phối hợp cùng các đơn vị chức năng đi thực tế, tăng cường đôn đốc, hướng dẫn các đơn vị hoàn thiện hồ sơ phê duyệt phương án quản lý rừng trên địa bàn
Chính quyền các địa phương phối hợp cùng các đơn vị chức năng đi thực tế tuần tra rừng trên địa bàn

Với đồng bào DTTS ở Lâm Đồng, rừng từ lâu đã hiện diện trong đời sống, văn hóa và ký ức cộng đồng. Khi người dân có thể sống được bằng việc giữ rừng, mối quan hệ giữa con người và đại ngàn càng trở nên bền chặt.

Sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị cùng với ý thức của người dân đã tạo nên một “hàng rào” vững chắc bảo vệ tài nguyên rừng ở tỉnh Lâm Đồng
Sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị cùng với ý thức của người dân đã tạo nên một “hàng rào” vững chắc bảo vệ tài nguyên rừng ở tỉnh Lâm Đồng

Nội dung, hình ảnh: Hoàng Sa
Trình bày: Phạm Lương

Hoàng Sa