Bài 4: Tạo sắc thái mới cho “trụ đỡ” tam nông
Mục tiêu của Lâm Đồng trong giai đoạn tới không chỉ là mở rộng quy mô sản xuất mà quan trọng hơn là tổ chức lại toàn bộ chuỗi giá trị nông nghiệp theo hướng doanh nghiệp dẫn dắt, hợp tác xã tổ chức sản xuất, nông dân là chủ thể và thị trường là định hướng.

Đồng bộ các giải pháp
Lâm Đồng mới đang có những lợi thế rất lớn để phát triển nền nông nghiệp hàng hóa hiện đại, quy mô lớn và có sức cạnh tranh cao. Thực tế, bên cạnh những thành tựu nổi bật khiến nông nghiệp tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế của tỉnh là những mặt mà khi phân tích thấy chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế, thậm chí nếu không chú trọng sẽ thành điểm yếu ở mức “gót chân Asin” của nền nông nghiệp tỉnh. Đó là số lượng và quy mô doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp còn hạn chế; liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân chưa thật sự chặt chẽ, bền vững. Bên cạnh đó, vùng nguyên liệu, hạ tầng logistics, bảo quản và chế biến sâu còn thiếu đồng bộ, làm tăng chi phí và hạn chế khả năng nâng cao giá trị nông sản.

Ông Vũ Đình Cường - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường cho biết, để giải quyết những điểm nghẽn do chủ quan lẫn khách quan trên, trong thời gian tới, sở tập trung vào 5 nhóm giải pháp trọng tâm. Thứ nhất, đổi mới tổ chức sản xuất, lấy doanh nghiệp làm đầu tàu và hợp tác xã làm cầu nối theo hướng hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm thu hút doanh nghiệp có năng lực đầu tư vào nông nghiệp, nhất là chế biến sâu, bảo quản, logistics và phát triển thị trường. Đồng thời, nâng cao năng lực quản trị của hợp tác xã, giúp hợp tác xã thực sự là cầu nối giữa doanh nghiệp và nông dân, tổ chức vùng nguyên liệu ổn định, đáp ứng tiêu chuẩn của thị trường.
Thứ hai, xây dựng vùng nguyên liệu tập trung gắn với hạ tầng logistics và chế biến. Tỉnh sẽ tổ chức lại sản xuất theo hướng hình thành các vùng chuyên canh quy mô lớn, có định hướng rõ về sản phẩm, tiêu chuẩn và thị trường, đồng thời gắn vùng nguyên liệu với doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ ngay từ đầu. Cùng với đó, từng bước hoàn thiện hệ thống kho lạnh, sơ chế, đóng gói, bảo quản sau thu hoạch và trung tâm logistics nông nghiệp.
Thứ ba, đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng khoa học - công nghệ và minh bạch chuỗi giá trị qua tập trung mở rộng mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, truy xuất nguồn gốc và quản lý dữ liệu sản xuất, ứng dụng trí tuệ nhân tạo… Mục tiêu là từng bước hình thành chuỗi sản xuất minh bạch, có dữ liệu và có khả năng truy xuất, đáp ứng ngày càng tốt hơn các yêu cầu của thị trường trong nước và quốc tế.
Thứ tư, cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư và cải cách thủ tục hành chính. Ngành sẽ phối hợp rà soát, đơn giản hóa quy trình, rút ngắn thời gian giải quyết các thủ tục thuộc thẩm quyền. Đồng thời, nghiên cứu, đề xuất các cơ chế phù hợp để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào những lĩnh vực mới, có tiềm năng tạo giá trị gia tăng cao như kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, tín chỉ các bon, công nghệ số…

Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực và chuyên nghiệp hóa người sản xuất. Ngành sẽ chú trọng đào tạo năng lực quản trị, kỹ năng thị trường và chuyển đổi số cho hợp tác xã; đồng thời hỗ trợ nông dân chuyển từ “tư duy sản xuất nông nghiệp” sang “tư duy kinh tế nông nghiệp”, sản xuất theo tiêu chuẩn, theo hợp đồng và theo nhu cầu của thị trường.
Liên kết - đổi mới - bền vững
Đầu tháng 9/2026, Ban Mê Green Farm đã tổ chức lễ khánh thành nhà máy cấp đông – chế biến nông sản xuất khẩu và xuất lô hàng sầu riêng cấp đông đầu tiên của Nhà máy số 2 tại Khu công nghiệp Tâm Thắng, xã Cư Jút. Đây là sự kiện khiến người trồng sầu riêng, chanh dây… ở Lâm Đồng mà trước hết ở phía Tây tỉnh, nơi gần nhà máy vui mừng nhất, vì có thêm đầu ra bền vững, nhờ có chế biến sâu, nâng giá trị nông sản xuất khẩu.

Tiếp đó, cũng nghe thêm câu chuyện kinh tế tuần hoàn từ vỏ sầu riêng, vỏ chanh dây và vỏ hạt xoài - những nguồn phụ phẩm phát sinh sẽ được công ty thu gom, xử lý bằng công nghệ nhiệt phân để tạo biochar và các sản phẩm hữu cơ. Sau đó, phân biochar được sử dụng trở lại cho vùng trồng sầu riêng, chanh dây, ớt và các loại cây trồng khác, nên không chỉ cải thiện chất lượng đất mà còn góp phần xây dựng một quy trình sản xuất có khả năng kiểm soát đầu vào – giảm chất thải – tái sử dụng phụ phẩm – nâng cao giá trị nông sản. Đây là nền tảng quan trọng để hình thành các vùng sản xuất đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của các thị trường quốc tế. Hơn thế, từ đây, còn ghi dấu ấn tín chỉ các bon trong nông nghiệp, mà trước mắt tập trung vào sản phẩm chanh dây xuất khẩu sang châu Âu, giúp doanh nghiệp thêm một nguồn thu đặc biệt.

Đây là 1 trong nhiều mô hình về kinh tế tuần hoàn đã và đang xây dựng ở Lâm Đồng và trước mắt cũng đã phác họa rõ hơn về sự xuất hiện của hệ sinh thái nông nghiệp trong doanh nghiệp. Như lời của Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Trọng Yên tại sự kiện: “Giá trị của một hệ sinh thái không nằm ở việc có bao nhiêu nhà máy hay bao nhiêu sản phẩm, mà nằm ở khả năng kết nối và tạo ra giá trị chung cho toàn bộ chuỗi: Từ nông dân, hợp tác xã, vùng nguyên liệu, doanh nghiệp chế biến, logistics, khoa học - công nghệ, tài chính đến thị trường”.
Đồng thời, Thứ trưởng cũng cam kết Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và các tổ chức liên quan từng bước tháo gỡ các rào cản kỹ thuật, thúc đẩy mở rộng thị trường xuất khẩu, hoàn thiện cơ chế chính sách và khuyến khích phát triển nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế tuần hoàn, nông nghiệp xanh và chuỗi giá trị bền vững.
Tất cả cho thấy phải liên kết để tạo vùng nguyên liệu, phải đổi mới để mang thêm giá trị và bền vững để đi đường dài cùng sự đồng bộ các giải pháp đã vạch ra, sẽ giúp tam nông thêm sắc thái mới. Khi ấy, nông dân đã là chủ thể vững của kinh tế nông nghiệp, Lâm Đồng sẽ có nông nghiệp thêm sinh thái, nông dân thêm văn minh, nông thôn thêm hiện đại.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Trọng Yên đề nghị cộng đồng doanh nghiệp và các bên liên quan:
Thứ nhất, đẩy mạnh liên kết thực chất với người nông dân và hợp tác xã. Doanh nghiệp cần đóng vai trò “đầu tàu”, không chỉ thu mua, bao tiêu sản phẩm mà còn đồng hành hỗ trợ kỹ thuật, hướng dẫn và giám sát quy trình canh tác theo các tiêu chuẩn phù hợp như VietGAP, GlobalGAP và yêu cầu của từng thị trường. Thứ hai, tập trung kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc. Xuất khẩu chính ngạch sang các thị trường lớn đòi hỏi tính tuân thủ cao về mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, an toàn thực phẩm và kiểm dịch thực vật. Thứ ba, đầu tư cho chế biến sâu để nâng cao giá trị gia tăng. Bên cạnh hoạt động đóng gói, bảo quản và cấp đông, doanh nghiệp cần tiếp tục tối ưu hóa dây chuyền hiện có, đồng thời nghiên cứu đầu tư thêm các công nghệ chế biến phù hợp như sấy thăng hoa... Song song tiếp tục xây dựng năng lực quản trị theo tiêu chuẩn quốc tế, đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ và chuyển đổi số trong quản lý vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc, sản xuất, kho lạnh và thị trường.
Bích Nghị - Nguyễn Nghĩa .