baolamdong.vn

Chính sách

Quy định chế độ trợ cấp hằng tháng với thanh niên xung phong cơ sở ở miền Nam tham gia kháng chiến

Chính phủ sửa đổi, bổ sung quy định mức trợ cấp hằng tháng với thanh niên xung phong cơ sở ở miền Nam tham gia kháng chiến giai đoạn 1965 - 1975.

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 388/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 112/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 10 năm 2017 của Chính phủ quy định về chế độ, chính sách đối với thanh niên xung phong cơ sở ở miền Nam tham gia kháng chiến giai đoạn 1965 -1975. 

Mức trợ cấp hằng tháng bằng 2 lần mức chuẩn trợ giúp xã hội 

Trong đó, tại Điều 1, Nghị định sửa đổi, bổ sung quy định mức trợ cấp hằng tháng: 

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung Điều 5 như sau:

“Điều 5. Chế độ trợ cấp hằng tháng Thanh niên xung phong cơ sở ở miền Nam không còn khả năng lao động và sống cô đơn, không nơi nương tựa thì được hưởng trợ cấp hằng tháng bằng 02 lần mức chuẩn trợ giúp xã hội theo quy định hiện hành.”.

Quy định thời hạn giải quyết chế độ trợ cấp

Nghị định cũng sửa đổi, bổ sung quy định thời hạn giải quyết  chế độ trợ cấp một lần, trợ cấp hàng với thanh niên xung phong cơ sở ở miền Nam tham gia kháng chiến giai đoạn 1965 - 1975 như sau:

- Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Ủy ban nhân dân cấp xã rà soát, phân loại, kiểm tra hồ sơ, tổ chức hội nghị để xác định những đối tượng đủ điều kiện và lập biên bản xác nhận hồ sơ xét hưởng chế độ trợ cấp theo Mẫu số 5 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này.

Thành phần hội nghị gồm đại diện: Đảng ủy, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Cựu thanh niên xung phong hoặc Ban liên lạc Cựu thanh niên xung phong, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố nơi có đối tượng đề nghị giải quyết chế độ trợ cấp đối với thanh niên xung phong cơ sở ở miền Nam.

Trường hợp địa phương không có tổ chức Hội Cựu thanh niên xung phong hoặc Ban liên lạc Cựu thanh niên xung phong thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã xem xét quyết định thành phần tham gia phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.

- Trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc hội nghị xét duyệt hồ sơ quy định tại khoản 2 Điều này, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm công khai kết quả theo Mẫu số 6A tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã; đăng tải trên Cổng thông tin điện tử và thông báo trên Đài truyền thanh cấp xã trong 05 ngày làm việc.

- Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày hết thời hạn công khai kết quả quy định tại khoản 3 Điều này, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổng hợp, báo cáo và chuyển hồ sơ đối tượng đủ điều kiện xét hưởng chế độ trợ cấp đến cơ quan chuyên môn về lĩnh vực Nội vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để thẩm định.

Hồ sơ gồm bản khai, giấy tờ theo quy định tại Điều 8 Nghị định này; biên bản hội nghị quy định tại khoản 2 và kết quả công khai quy định tại khoản 3 Điều này.

Trường hợp có đơn thư khiếu nại, tố cáo về kết quả xét duyệt hồ sơ thì Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm xác minh và giải quyết nội dung đơn thư khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo. Thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo không tính vào thời gian giải quyết thủ tục hành chính theo quy định tại Điều này.

- Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định, cơ quan chuyên môn về lĩnh vực Nội vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Hội Cựu thanh niên xung phong, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cùng cấp và các cơ quan, đơn vị liên quan hoàn thành việc thẩm định, báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định.

- Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của cơ quan chuyên môn về lĩnh vực Nội vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quyết định hưởng chế độ trợ cấp theo Mẫu số 8, 9, 10 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này.

Chi trả chế độ trợ cấp trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ khi có quyết định

- Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày có quyết định hưởng trợ cấp một lần hoặc hằng tháng, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đối tượng đăng ký thường trú có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc chi trả chế độ trợ cấp theo quy định hiện hành./.