baolamdong.vn

Đoàn đại biểu Quốc hội - HĐND

Đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng đề xuất siết chặt quy định về định danh, an ninh dữ liệu và xử lý vi phạm hành chính

Ngọc Diệp

Tại các phiên thảo luận ở hội trường ngày 4/11, đại biểu Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng, đã đóng góp nhiều ý kiến thiết thực đối với các dự án luật. Các đại biểu tập trung đề xuất hoàn thiện quy định theo hướng bảo vệ quyền riêng tư, quyền lợi hợp pháp của người dân, hạn chế thủ tục chồng chéo và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính kịp thời, chặt chẽ.

202611040844479184_z8449256723960_88221d639f8e716e9974d1891e00fe85(1).jpg
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn chủ trì, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh điều hành phiên thảo luận. (Ảnh: Quốc hội)

Bảo đảm an toàn dữ liệu gắn với quyền riêng tư, quyền công dân

Sáng 4/11, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật Định danh và xác thực điện tử và dự án Luật An ninh dữ liệu.

Phát biểu tại hội trường, đại biểu Dương Khắc Mai, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng tập trung góp ý bốn nhóm vấn đề đối với mỗi dự án luật, trong đó nhấn mạnh yêu cầu minh bạch về phạm vi áp dụng, trách nhiệm quản lý dữ liệu, kiểm soát hoạt động liên kết và bảo vệ thông tin cá nhân.

1793779325359_8342690962916268505_8342690962916268505_428078afeb0d8b89914264fbb4961f22.jpg
Đại biểu Dương Khắc Mai, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng phát biểu tại phiên thảo luận. (Ảnh: Quốc hội)

Đối với dự án Luật Định danh và xác thực điện tử, đại biểu quan tâm trước hết đến đối tượng định danh tại Điều 7 và phạm vi thực hiện tại Điều 8. Theo dự thảo, đối tượng định danh bao gồm cá nhân, tổ chức, tài sản, dữ liệu, sự kiện, giao dịch, hành vi, địa điểm và không gian. Đại biểu đồng tình với cách tiếp cận của cơ quan soạn thảo, song cho rằng cần làm rõ hơn ranh giới giữa trường hợp bắt buộc định danh và trường hợp thực hiện theo nhu cầu, bởi các đối tượng này có tính chất pháp lý rất khác nhau.

Đại biểu đề nghị bổ sung nguyên tắc chỉ yêu cầu định danh bắt buộc khi thật sự cần thiết cho quản lý nhà nước, có căn cứ pháp luật rõ ràng và tương xứng với mục đích; đồng thời kế thừa mã định danh, kết quả đăng ký chuyên ngành đã có, không phát sinh thêm thủ tục, chi phí hoặc làm lộ bí mật kinh doanh. Đặc biệt, đối với tài sản và quyền tài sản, việc định danh chỉ nên phục vụ nhận diện, không thay thế thủ tục xác lập quyền sở hữu theo quy định của pháp luật chuyên ngành.

202611040930163968_z8449447577823_8947e60552f1d1a246fe751373621aaa.jpg
Các đại biểu tham gia phiên thảo luận. (Ảnh: Quốc hội)

Về thu thập, chuẩn hóa và cập nhật thông tin danh tính điện tử, đại biểu cho rằng dù dự thảo đã quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức tạo lập dữ liệu, nhưng vẫn cần cụ thể hóa cơ chế xử lý khi thông tin sai lệch, không thống nhất giữa các cơ sở dữ liệu.

Bởi trên thực tế, chỉ một thông tin sai cũng có thể làm gián đoạn giải quyết thủ tục hành chính, giao dịch ngân hàng và quyền tiếp cận các dịch vụ thiết yếu của người dân. Do đó, đại biểu đề nghị xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm đối với dữ liệu gốc, cơ quan chịu trách nhiệm đồng bộ và đầu mối xử lý khi có sai lệch; đồng thời quy định thời hạn tiếp nhận, kiểm tra, đính chính và thông báo kết quả cho chủ thể danh tính điện tử.

Đáng chú ý, trong thời gian xử lý sai sót không do người dân gây ra, cần có phương án xác minh thay thế, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, không buộc người dân cung cấp lại những dữ liệu mà cơ quan nhà nước đã có.

Đối với dự án Luật An ninh dữ liệu, đại biểu Dương Khắc Mai đánh giá cao việc cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp thu ý kiến ĐBQH, nhất là định hướng quản lý rủi ro, hậu kiểm là chủ yếu, hạn chế thủ tục không cần thiết.

Tuy nhiên, đại biểu đề nghị tiếp tục hoàn thiện 4 nhóm vấn đề. Thứ nhất, về áp dụng pháp luật và xử lý các quy định giao thoa tại Điều 3, đại biểu cho rằng cần phân định rõ Luật An ninh dữ liệu điều chỉnh các biện pháp đặc thù về an ninh dữ liệu, còn quyền, điều kiện xử lý và nghĩa vụ chuyên ngành tiếp tục thực hiện theo luật tương ứng. Đặc biệt, cần công nhận kết quả phân loại, đánh giá tác động, thẩm định đã được thực hiện hợp pháp; chỉ yêu cầu bổ sung phần rủi ro an ninh dữ liệu chưa được đánh giá, tránh tình trạng cùng một hệ thống phải thực hiện nhiều bộ hồ sơ, nhiều quy trình cho cùng một nội dung.

202611040930163812_z8449447562063_c91cc413cb34cf9099e088481734ae73.jpg
Các đại biểu tham gia phiên thảo luận. (Ảnh: Quốc hội)

Thứ hai, về phân định cấp độ rủi ro và nghĩa vụ đánh giá, thẩm định, đại biểu nhận thấy các tiêu chí như “hậu quả nghiêm trọng”, “đặc biệt nghiêm trọng” còn mang tính định tính. Vì vậy, cần quy định các nhóm tiêu chí cốt lõi về tính chất dữ liệu, quy mô, mức độ tích tụ, khả năng liên kết và hậu quả khi xảy ra sự cố; bảo đảm thống nhất, liên thông với kết quả phân loại theo Luật Dữ liệu.

Đồng thời, cần khẳng định rõ giá trị thay thế của hồ sơ, chứng nhận tương đương còn hiệu lực, công khai tiêu chí công nhận và đầu mối tiếp nhận để tránh việc doanh nghiệp phải giải trình nhiều lần.

Thứ ba, về xử lý dữ liệu xuyên biên giới tại Điều 19, đại biểu thống nhất cần kiểm soát nghiêm ngặt hoạt động chuyển dữ liệu có nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, nhưng cũng phải bảo đảm dòng chảy dữ liệu hợp pháp phục vụ thương mại, đầu tư, nghiên cứu khoa học và cung cấp dịch vụ số. Đại biểu đề nghị phân biệt rõ trường hợp chỉ cần đánh giá, lưu hồ sơ để hậu kiểm với trường hợp bắt buộc phải chấp thuận trước; chỉ thực hiện tiền kiểm đối với loại dữ liệu hoặc hoạt động có nguy cơ đặc biệt cao theo tiêu chí luật định.

Thứ tư, về quy định chuyển tiếp tại Điều 29, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo rà soát toàn diện số điều, khoản, thuật ngữ và các quy định dẫn chiếu. Đại biểu dẫn chứng điểm a khoản 1 Điều 29 đang dẫn chiếu Điều 8 và khoản 4 Điều 10, trong khi nội dung tương ứng đã chuyển sang Điều 9 và khoản 4 Điều 11.

Siết điều kiện xử lý vi phạm, đề nghị giữ thời hiệu xử phạt giao thông 1 năm

Chiều 4/11, Quốc hội họp phiên toàn thể tại hội trường, thảo luận về dự án Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi).

Tham gia thảo luận, đại biểu Dương Khắc Mai đề nghị tiếp tục hoàn thiện 3 nhóm quy định liên quan đến xử phạt không lập biên bản, thời hạn tạm giữ người và các biện pháp ngăn chặn, bảo đảm xử lý vi phạm hành chính.

1793779321590_8342690962916268505_8342690962916268505_9f972815343adc521cade55be66f4fc8.jpg
Đại biểu Dương Khắc Mai, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng phát biểu tại phiên thảo luận chiều 4/11. (Ảnh: Quốc hội)

Về xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản tại Điều 44, đại biểu thống nhất với mục tiêu đơn giản hóa thủ tục, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ. Tuy nhiên, hình ảnh, dữ liệu thu thập từ phương tiện kỹ thuật không phải lúc nào cũng đủ căn cứ xác định chính xác chủ thể, tính chất, mức độ và tình tiết vi phạm.

Đại biểu dẫn chứng các vi phạm về trật tự xây dựng, môi trường, đất đai được phát hiện qua flycam, camera giám sát nhưng hiện trạng thực địa chưa rõ ràng hoặc có tranh chấp. Trong những trường hợp này, việc bỏ qua khâu lập biên bản hiện trường có thể thiếu chặt chẽ.

Do đó, đại biểu đề nghị chỉ áp dụng thủ tục không lập biên bản đối với vi phạm có tình tiết đơn giản, chứng cứ rõ ràng và đã xác định được cá nhân, tổ chức vi phạm. Trường hợp phải xác minh nhiều tình tiết hoặc ghi nhận hiện trạng thực tế thì phải lập biên bản. Khi thông báo vi phạm, cần cung cấp tài liệu, hình ảnh hoặc dữ liệu làm căn cứ để người dân có điều kiện kiểm tra, giải trình.

202611040830203147_z8449202632429_8af093de1bb4bc75118e73911b2eb9ad.jpg
Các đại biểu tham gia phiên thảo luận. (Ảnh: Quốc hội)

Đối với thời hạn tạm giữ người theo thủ tục hành chính tại khoản 3 Điều 106, dự thảo quy định thời hạn không quá 24 giờ, trường hợp cần thiết có thể kéo dài nhưng không quá 48 giờ.

Đại biểu cho rằng đây là quy định liên quan trực tiếp đến quyền tự do của cá nhân, vì vậy cần làm rõ thế nào là “trường hợp cần thiết”, tránh cách hiểu và áp dụng không thống nhất.

Đại biểu đề nghị quy định cụ thể các điều kiện, căn cứ kéo dài thời hạn tạm giữ, gắn với tính chất, mức độ phức tạp của vụ việc và yêu cầu ngăn chặn hành vi vi phạm; đồng thời xác định rõ trách nhiệm của người có thẩm quyền, bảo đảm việc áp dụng có căn cứ, đúng mục đích, không tùy tiện.

Về các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính tại Điều 117, Điều 118 và Điều 119, đại biểu đề nghị tiếp tục cân nhắc quy định ngừng cung cấp điện, nước, dịch vụ Internet, viễn thông và tạm dừng một số thủ tục liên quan đến phương tiện.

Theo đại biểu, đây là những dịch vụ thiết yếu, việc ngừng cung cấp có thể ảnh hưởng không chỉ đến người vi phạm mà còn đến người lao động, khách hàng và các chủ thể khác cùng sử dụng công trình, hạ tầng.

Vì vậy, cần quy định chặt chẽ căn cứ xác định sự cần thiết, phạm vi tác động, thời hạn áp dụng; bảo đảm không làm gián đoạn dịch vụ thiết yếu và quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba. Đồng thời, phải quy định rõ trách nhiệm khôi phục dịch vụ kịp thời khi căn cứ áp dụng không còn.

Đối với việc tạm dừng đăng kiểm, đăng ký phương tiện hoặc cấp giấy phép điều khiển phương tiện, đại biểu đề nghị làm rõ điều kiện áp dụng đối với từng chủ thể, nhất là trường hợp phương tiện đã chuyển nhượng nhưng chưa hoàn tất thủ tục đăng ký, tránh áp dụng biện pháp đối với người không trực tiếp thực hiện hành vi vi phạm.

Cũng tại phiên thảo luận chiều cùng ngày, đại biểu Nguyễn Trường Giang, Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng, tập trung góp ý về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn giao thông đường bộ.

1793779321577_8342690962916268505_8342690962916268505_80297948d3ca8da6e76e8fdc8fe7f3cf.jpg
Đại biểu Nguyễn Trường Giang, Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng phát biểu tại phiên thảo luận. (Ảnh: Quốc hội)

Đại biểu đánh giá cao việc cơ quan soạn thảo đã tiếp thu ý kiến của các đại biểu Quốc hội, điều chỉnh đề xuất tăng thời hiệu xử phạt từ 3 năm xuống còn 2 năm. Tuy nhiên, đại biểu đề nghị tiếp tục xem xét giảm và giữ nguyên thời hiệu 1 năm như quy định hiện hành.

Đại biểu phân tích, một trong những nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính tại khoản 1 Điều 3 dự thảo Luật là: “Mọi hành vi vi phạm hành chính phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và việc xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành nhanh chóng, công khai, khách quan”.

Việc kéo dài thời hiệu xử phạt có thể tạo thuận lợi cho cơ quan nhà nước nhưng đồng thời ảnh hưởng đến quyền của tổ chức, cá nhân, thậm chí dẫn đến tình trạng chậm trễ trong phát hiện, xử lý vi phạm. Người vi phạm có thể tiếp tục thực hiện hành vi mà không biết mình đã vi phạm, sau đó phải chịu tình tiết tăng nặng “vi phạm hành chính nhiều lần”.

Đại biểu cũng cho rằng, trong bối cảnh chuyển đổi số, việc phát hiện và thông báo vi phạm giao thông ngày càng nhanh chóng nhờ hệ thống camera giám sát, ứng dụng định danh điện tử VNeID và ứng dụng giao thông thông minh VnTraffic.

Quang cảnh Phiên họp sáng 4/11. (Ảnh: Quốc hội)
Quang cảnh Phiên họp sáng 4/11. (Ảnh: Quốc hội)

Đại biểu dẫn thông tin từ Cục Cảnh sát giao thông về khả năng hệ thống tự động gửi thông báo vi phạm cho chủ xe sau khoảng 2 giờ kể từ khi phát hiện, tra cứu và xác định chủ phương tiện. Cùng với đó, việc triển khai hàng nghìn camera AI tại Hà Nội cho thấy năng lực phát hiện, giám sát vi phạm ngày càng được nâng cao.

Đáng chú ý, đại biểu cho rằng không nên lấy lý do bảo đảm đồng bộ thời hiệu xử phạt giữa giao thông đường bộ với hàng hải, giao thông đường thủy nội địa để kéo dài thời hiệu, bởi đặc điểm vi phạm, tính chất và khả năng ứng dụng công nghệ trong từng lĩnh vực có sự khác biệt.

Từ những phân tích trên, đại biểu Nguyễn Trường Giang đề nghị giữ nguyên thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn giao thông đường bộ là 1 năm, nhằm bảo đảm nguyên tắc xử lý kịp thời, tăng tính răn đe và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân.

Ngọc Diệp