baolamdong.vn

Nghị quyết và cuộc sống

Bản lĩnh “xé rào” kiến tạo thể chế và lời thề danh dự trước nhân dân

Thanh Nhàn - Nguyệt Nga

Đêm cuối năm 2008, giữa lúc dải biển ven bờ bị xới tung bởi nạn cào điện tận diệt, một lá thư tay gửi đến cơ quan quản lý thủy sản như một tiếng gào xé lòng của người đi biển. Nhưng để đáp lại tâm nguyện chính đáng ấy, người cán bộ lại va ngay vào "vách đá" thể chế sừng sững: Pháp luật Việt Nam khi đó kiên quyết không cho phép giao mặt biển cho người dân quản lý! Giữa một bên là sự sống còn của biển, một bên là sự an toàn của chiếc ghế cán bộ, anh chọn ngả đường nào?

Bản lĩnh “xé rào” kiến tạo thể chế và lời thề danh dự trước nhân dân
Box chung

Đêm cuối năm 2008, giữa lúc dải biển ven bờ bị xới tung bởi nạn cào điện tận diệt, một lá thư tay gửi đến cơ quan quản lý thủy sản như một tiếng gào xé lòng của người đi biển. Để đáp lại tâm nguyện chính đáng ấy, người cán bộ thuỷ sản lại va ngay vào "vách đá" thể chế sừng sững: Pháp luật Việt Nam khi đó kiên quyết không cho phép giao mặt biển cho dân quản lý! Giữa một bên là sự sống còn của biển, một bên là sự an toàn của chiếc ghế cán bộ, anh chọn ngả đường nào?

tit phu 1

Những lão ngư ở dải đất ven biển Tân Thành bây giờ cứ mỗi lần ngồi uống trà chiều nhìn ra biển lại bàng hoàng nhớ về giai đoạn đen tối của gần 20 năm trước.

1791018952934_1916264185171302717_3393815048968495795_20293636924fdfc63f566c814e5a3f2b.jpg
Vùng biển xã Tân Thành (tỉnh Lâm Đồng)

Khi đó, biển ven bờ không khác gì một "chảo lửa" bị xới tung bởi các hình thức khai thác tận diệt. Lớp trẻ có sức khỏe thì bỏ làng đi làm công nhân, còn những người già, những phụ nữ bám lại làng biển chỉ biết trông chờ vào vài hải lý ven bờ.

m3.jpg
Sò lông - loài thuỷ sản bị đánh bắt đến mức cạn kiệt ở vùng biển này thời điểm trước đây

Nhưng ngay cả vùng nước nông ấy cũng bị tàn phá không thương tiếc. Những chiếc ghe cào bay, cào điện càn quét ngày đêm từ mặt nước xuống tận đáy cát. Hải sản chưa kịp sinh sản đã bị xúc sạch.

Sò lông là loài thủy sản vốn được coi là "lộc biển" trao cho vùng đất này bị đánh bắt đến mức cạn kiệt. 1 kg sò lông nhỏ bằng ngón tay trỏ, tới 2 -3 trăm con, cũng bị cào lên bán làm thức ăn cho tôm hùm với giá rẻ mạt vài ngàn đồng.

1790952375831_1916264185171302717_3393815048968495795_cd19108203915890348b92cc6a36f0ad(1).jpg
Những năm 2008 - 2010, ngư dân nơi đây gặp nhiều khó khăn do nguồn thuỷ sản bị cạn kiệt

Ông Nguyễn Văn Phúc, một ngư dân già ở làng biển Tân Thành, chua xót nhớ lại: "Mấy chục năm về trước, biển ở đây giàu lắm. Chỉ cần quăng mẻ lưới ven bờ là cá trích, cá nục, sò lông khệ nệ cả thúng. Vậy mà đến những năm 2008 - 2010, biển trống hơ trống hoắc. Có những chuyến biển đi từ 3 giờ sáng đến chiều muộn trở về, tiền bán cá không đủ bù tiền dầu. Thấy con sò lông nhỏ bằng hạt lạc cũng bị cào lên, tui chảy nước mắt. Nhìn biển chết dần chết mòn, người đi biển chúng tôi như bị ai cắt đi khúc ruột".

Ngư dân ra khơi đánh cá
Ngư dân ra khơi đánh cá

Sự cạn kiệt nguồn lợi không chỉ làm nghèo đi những căn nhà xiêu vẹo ven bãi bồi, mà còn châm ngòi cho những cuộc xung đột khốc liệt giữa ngư dân địa phương làm nghề lưới trôi truyền thống với những nhóm ghe cào từ nơi khác đến.

Ngư dân mất niềm tin, biển mất sức sống. Một không khí u xám bao trùm lên toàn bộ vùng duyên hải. Giữa lúc rơi vào tuyệt vọng, ngày 2 tháng 12 năm 2008, một lá thư tay được gửi đến UBND xã Thuận Quý (bây giờ là xã Tân Thành, tỉnh Lâm Đồng).

m7.jpg

Lá thư được viết trên tờ giấy vở học trò kẻ ô ly đã ngả màu, nét chữ nguệch ngoạc, sai chính tả nhem nhuốc vì nét mực dầu. Tác giả của lá thư là ông Phạm Cường, một ngư dân chỉ mới học hết lớp 3 ở địa phương.

Lá thư ngắn gọn, vỏn vẹn 93 chữ nhưng chứa đựng một nỗi trăn trở rất lớn: “... Sò lông ngày càng cạn kiệt, bà con khai thác sò con quá nhiều. Tôi muốn nuôi sò để giữ vùng biển xã Thuận Quý, để đời sau con cháu còn làm theo. Nếu không bảo vệ được sẽ cạn kiệt, nhờ các cấp giúp đỡ cho...”

m4.jpg
Ông Phạm Cường (ở giữa) ngư dân đã gửi đơn cho các ngành chức năng

Không từ ngữ mỹ miều, lá thư là tiếng khóc xót xa của một người suốt đời sống bằng biển. Người ngư dân lớp 3 ấy không xin tiền hỗ trợ, không xin gạo cứu tế. Điều duy nhất ông khẩn cầu chính quyền là xin được giữ biển, xin khoanh một vùng biển nhỏ để thả con sò giống xuống, cấm cào tận diệt, để con sò có không gian sinh sôi, để con cháu đời sau không phải bỏ quê đi lang bạt cầu thực.

titphu2.jpg
PNAT 2

Ngay sau đó, lá thư được gửi đến tay ông Huỳnh Quang Huy, khi đó là Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản (giờ đã về hưu theo chế độ). Đọc từng dòng chữ nghiêng lệch, còn sai lỗi chính tả, vị Chi cục trưởng lặng người. Ông cảm nhận được cái "sức nóng" truyền ra từ trang giấy. Một người dân bình thường, học chưa hết bậc tiểu học, lại có tầm nhìn bảo tồn sinh thái xa đến thế! Không hề chậm trễ, ông Huy đã tự mình đi gặp người viết đơn.

m1(1).jpg
Những buổi đến làng biển Tân Thành gặp gỡ ngư dân của ông Huỳnh Quang Huy (áo trắng)

Ông Huy nhớ lại, hôm ấy ông bắt cái tay xạm nắng, chằn chặn vết sẹo vì kéo lưới của ông Phạm Cường, đứng trước ngọn sóng bạc đầu, ông đã xúc động nói: "Anh Cường, lá thư của anh không sai chữ nào ở cái Tâm cả. Anh lo cho biển một, chúng tôi là cán bộ quản lý phải lo mười. Tôi hứa với anh, bằng mọi giá phải tìm ra cách để dân mình cùng đứng ra giữ lấy vùng biển này!"

Ông Huỳnh Quang Huy, khi đó là Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản (giờ đã về hưu theo chế độ)

Lời hứa với người ngư dân thì phát ra rất nhanh từ trái tim nhiệt huyết, nhưng khi trở về "đại bản doanh", ông Huỳnh Quang Huy mới nhận ra mình đang đứng trước một "bức tường đá" thể chế sừng sững.

Thời điểm những năm 2008 - 2010, Luật Thủy sản năm 2003 và hệ thống pháp lý Việt Nam hoàn toàn không có cơ chế giao mặt biển cho cộng đồng. Khung pháp lý lúc bấy giờ chỉ quy định hai hình thức: một là mặt biển thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước quản lý chung, ai muốn ra đánh bắt thế nào thì đánh bắt; hai là thành lập các Khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia do Nhà nước vận hành toàn bộ bằng ngân sách.

1790951764328_1916264185171302717_3393815048968495795_2921d3fb6e0d719329082badccccd706.jpg
Những tâm sự của ngư dân được người cán bộ Chi Cục Thuỷ sản lúc bấy giờ lắng nghe

Đứng trước lá đơn của ông Phạm Cường, ông Huỳnh Quang Huy đứng giữa 2 ngã rẽ khắc nghiệt của người làm công chức. Lúc bấy giờ, 2 con đường xuất hiện trong tâm trí ông.

m23.jpg

Con đường thứ nhất, đó là trả lời đúng quy trình hành chính. Viết một văn bản phúc đáp thật trang trọng, trích dẫn đầy đủ các khoản, điều của Luật Thủy sản hiện hành để giải thích cho ông Cường hiểu rằng: "Nguyện vọng của anh rất chính đáng, nhưng hiện nay pháp luật chưa có quy định về việc giao mặt biển cho cộng đồng, đề nghị anh tiếp tục chờ đợi...". Nếu chọn con đường này, ông Huy hoàn toàn an toàn. Không một cấp trên nào trách ông, không một cơ quan thanh tra nào có thể sờ đến ông. Ông tròn vai một người quản lý "đúng quy trình". Nhưng giá đắt phải trả là biển Thuận Quý sẽ chết hoàn toàn, và niềm tin của người dân vào chính quyền sẽ tan thành mây khói.

Con đường thứ hai, đó là nhận gánh rủi ro về mình. Đi tìm khoảng trống pháp lý, chấp nhận bị nghi ngờ, bị coi là "xé rào", "làm liều" để tìm bằng được một lối thoát cho dân. Nếu mô hình thất bại hoặc xảy ra xung đột phức tạp trên biển, sự nghiệp công chức của ông coi như chấm hết.

PNAT 1

Trong căn phòng làm việc chất đầy những tập hồ sơ báo cáo hải sản giảm sút, ông Huỳnh Quang Huy đã trằn trọc nhiều đêm liền. Ông nhìn lại tấm bản đồ vùng biển ven bờ, nhớ lại ánh mắt mỏi mòn trông chờ của ông Phạm Cường và những người ngư dân nghèo của vùng biển Tân Thành. Cuối cùng, người đứng đầu Chi cục Thủy sản đã đưa ra một quyết định định mệnh: Không thể khoanh tay đứng nhìn biển chết! Phải tìm cách "xé rào" để cứu biển, cứu dân!

(Còn nữa)

Nội dung và ảnh: Thanh Nhàn - Gia Phú
Trình bày: Nguyệt Nga (bài viết có sử dụng hình ảnh tư liệu)

BÌA CUỐI EME

Thanh Nhàn - Nguyệt Nga