50 năm Vùng kinh tế mới Hà Nội tại Lâm Đồng: Từ gian khó đến sức sống mới
Những lời ca trong bài hát Hà Nội ở Lâm Đồng của nhạc sĩ Xuân Oanh gợi nhớ một thế hệ thanh niên Thủ đô tuổi đôi mươi mang theo nhiệt huyết, khát vọng lên đường xây dựng quê hương mới.
.jpg)
Những lời ca trong bài hát Hà Nội ở Lâm Đồng của nhạc sĩ Xuân Oanh gợi nhớ một thế hệ thanh niên Thủ đô tuổi đôi mươi mang theo nhiệt huyết, khát vọng lên đường xây dựng quê hương mới.

Rời Hồ Gươm, những con phố thân quen và mái nhà có người thân chờ đợi, họ đến với núi rừng Tây Nguyên còn hoang sơ, bắt đầu hành trình khai phá bằng sức trẻ, lòng kiên trì và niềm tin vào ngày mai. Nửa thế kỷ trôi qua, vùng đất từng trải qua muôn vàn gian khó đã đổi thay, còn Lâm Hà trở thành nơi lưu giữ nghĩa tình giữa hai miền quê.


Ông Lê Tiến Thành, sinh năm 1958, quê gốc Đông Anh, Hà Nội, là một trong những thanh niên tiền trạm đến Lâm Đồng năm 1976. Khi ấy, ông cùng nhiều đồng đội đang ở tuổi mười tám, đôi mươi, lần đầu xa gia đình, rời những nếp sinh hoạt thân quen để bắt đầu cuộc sống giữa vùng đất mới.
Sau ngày đất nước thống nhất, thực hiện chủ trương phân bổ lại lao động, dân cư để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, ngày 7/12/1975, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội ban hành Thông báo số 154-TB/ĐBHN về việc xây dựng Vùng kinh tế mới Hà Nội tại Tuyên Đức - Lâm Đồng.

Ngày 29/3/1976, Tổng đội Thanh niên tiền trạm Gia Lâm với 125 đội viên xuất quân, mở đầu hành trình xây dựng vùng kinh tế mới. Tiếp đó, thanh niên từ Gia Lâm, Từ Liêm, Đông Anh, Thanh Trì cùng các khu phố Ba Đình, Đống Đa, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng lần lượt có mặt tại Nam Ban.
Đến cuối năm 1977, toàn vùng có 2.350 lao động tiền trạm, vừa lao động sản xuất, vừa xây dựng cơ sở vật chất ban đầu.

Phía trước họ là núi đồi nối tiếp, đất đai hoang hóa, đường sá cách trở, điều kiện sinh hoạt thiếu thốn. Từ phát quang, khai hoang, mở đường, bắc cầu đến dựng nhà, xây trường học, trạm xá, mỗi công việc đều đòi hỏi sức lực và sự bền bỉ. Những thanh niên trẻ vừa học cách thích nghi với vùng đất mới, vừa đặt những viên gạch đầu tiên cho cuộc sống của hàng ngàn gia đình sẽ đến sau.

Theo kế hoạch, thời hạn công tác của thanh niên tiền trạm là 3 năm. Hết thời hạn ấy, ông Thành quyết định ở lại. Vùng đất đã có những đổi thay đầu tiên nhưng vẫn cần người tiếp tục vun đắp. Ông lập gia đình, gắn bó với nơi từng là điểm đến của một chuyến đi xa.

Nhớ lại những năm đầu, ông Thành vẫn không quên nỗi nhớ nhà, nhất là mỗi dịp tết. “Tuổi trẻ xa nhà, lần đầu tiên xa cha, xa mẹ, xa quê hương nhớ nhiều lắm. Nhưng rồi quen dần, mình càng thấy yêu mảnh đất này hơn”, ông chia sẻ.
Từ những ngày đầu còn nhiều thiếu thốn đến cuộc sống ổn định hôm nay, điều khiến ông tự hào không chỉ là sự đổi thay của vùng đất mà còn là những năm tháng tuổi trẻ đã góp phần tạo dựng.
Ông mong con cháu được học hành đầy đủ, tiếp cận khoa học, công nghệ hiện đại, tiếp tục phát huy tinh thần cần cù, ý chí vươn lên và truyền thống nghĩa tình của người Hà Nội.

Sau những bước chân tiền trạm, từng gia đình từ Hà Nội lần lượt vào Lâm Đồng lập nghiệp. Người dân phải thích nghi với khí hậu, thổ nhưỡng, tìm cách ổn định sản xuất, chăm lo con cái và gây dựng sinh kế trên những mảnh đất còn hoang sơ.

Ngày 20/10/1979, TP Hà Nội thành lập Ban Chỉ đạo tiếp đón dân vào vùng Lán Tranh. Đến tháng 4/1980, số lao động và hộ dân đi tiền trạm tại khu vực này đã lên gần 1.000 người. Những mái nhà được dựng lên, những khoảnh đất được cải tạo, đường sá dần mở rộng. Cuộc sống mới được vun đắp từ sự kiên trì bám trụ của từng gia đình.


Theo tư liệu lịch sử, toàn vùng đã vận động được 5.124 hộ dân, với 23.665 nhân khẩu và 10.162 lao động tình nguyện rời Thủ đô vào Lâm Đồng lập nghiệp.
Tỷ lệ hộ trở về quê cũ chỉ hơn 5%, thấp hơn nhiều so với mức bình quân 27% của các vùng kinh tế mới trong cả nước thời kỳ đó. Đến năm 1985, có 35% số hộ làm ăn khá, 55% ở mức trung bình và 10% còn khó khăn.

Toàn vùng khai hoang được 5.539 ha đất, xây dựng 5.212 căn nhà, mở 276 km đường trục và đường nội bộ, lắp đặt 52 km đường dây điện trung, hạ thế cùng 7 trạm biến thế. Cùng với các công trình cầu, cống, thủy lợi, giếng nước, hệ thống trường học và y tế từng bước hình thành.
.jpg)
Sản xuất dần ổn định với các nông trường, cơ sở nông - lâm nghiệp và hợp tác xã. Sản lượng lương thực toàn vùng đạt 25.000 tấn; bình quân lương thực đầu người tăng từ 158 kg/năm vào năm 1977 lên 243 kg/năm vào năm 1985.
Toàn vùng có 16 trường từ mẫu giáo đến phổ thông trung học và bổ túc văn hóa, với 212 lớp, 5.850 học sinh và 351 giáo viên. Hai phân trạm y tế Nam Ban và Lán Tranh với tổng số 70 giường bệnh cũng được hình thành, từng bước đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân.
.jpg)
Ngày 28/10/1987, Hội đồng Bộ trưởng quyết định thành lập huyện Lâm Hà trên cơ sở sáp nhập vùng kinh tế mới Hà Nội tại Nam Ban, Lán Tranh với một số xã thuộc huyện Đức Trọng. Đơn vị hành chính mới có diện tích tự nhiên 93.023 ha, gồm 2 thị trấn Đinh Văn, Nam Ban và 14 xã. Tên gọi Lâm Hà, ghép từ Lâm Đồng và Hà Nội, gửi gắm mong muốn gắn kết quê cũ với quê mới của những người đi mở đất.

Qua thời gian, người Hà Nội cùng đồng bào các dân tộc bản địa và người dân từ nhiều vùng miền chung sống, lao động, tạo nên một cộng đồng đa dạng về văn hóa. Tình cảm với Hà Nội vẫn được gìn giữ qua giọng nói, nếp sinh hoạt và những câu chuyện quê cũ được ông bà, cha mẹ kể lại. Với nhiều gia đình, Lâm Hà không còn là nơi đến lập nghiệp mà đã trở thành quê hương qua nhiều thế hệ.

Nghĩa tình ấy còn được nối dài qua những công trình mang dấu ấn hỗ trợ của Thủ đô. Ông Nguyễn Ngọc Sơn, Phó Chủ tịch UBND xã Đinh Văn Lâm Hà cho biết, nhiều công trình trên địa bàn được Hà Nội hỗ trợ như: đường liên xã Tân Văn - Phúc Thọ với kinh phí hơn 20 tỷ đồng, nâng cấp đường trung tâm thị trấn Đinh Văn trước đây với kinh phí 34 tỷ đồng, xây dựng Trường THCS Lý Tự Trọng với nguồn vốn 40 tỷ đồng và Quảng trường Trung tâm hành chính với kinh phí hỗ trợ 10 tỷ đồng.

Tại xã Tân Hà Lâm Hà, Chủ tịch UBND xã Nguyễn Tài Phương cũng nhắc đến các công trình giao thông nông thôn tại thôn Thạch Thất, Trường THCS Đan Phượng và Trường Tiểu học Hoài Đức, với tổng vốn đầu tư hơn 20 tỷ đồng. Những tên gọi thân thương của các địa danh Hà Nội trên vùng đất mới như những sợi dây nối dài ký ức, nhắc nhớ về nơi khởi đầu của ông bà, cha mẹ.
Theo ông Nguyễn Tài Phương, địa phương mong muốn tiếp tục giữ gìn mối liên hệ với Hà Nội, mở rộng hợp tác trong đầu tư, xúc tiến thương mại, giáo dục và giao lưu văn hóa. Qua đó, những câu chuyện của người đi trước được lưu giữ, giúp thế hệ trẻ hiểu hơn về hành trình lập nghiệp của cha ông.


Nửa thế kỷ sau ngày những đội viên tiền trạm đầu tiên đặt chân đến Nam Ban, Lán Tranh, những khu dân cư sơ khai đã trở thành nơi sinh sống của nhiều thế hệ. Đường sá, trường học được đầu tư; vùng sản xuất nông nghiệp mở rộng; đời sống người dân ngày càng khởi sắc.
.jpg)
Tại Nam Ban Lâm Hà, nông nghiệp tiếp tục là nền tảng quan trọng của kinh tế địa phương. Diện tích cà phê đạt 10.551 ha, dâu tằm 1.197 ha, mắc ca 1.401 ha, cây ăn quả 1.189,7 ha và rau các loại 977,4 ha. Địa phương cũng có 217 ha cây trồng sản xuất theo hướng công nghệ cao.

Ông Phan Tiến Dũng, Chủ tịch UBND xã Nam Ban Lâm Hà cho biết, địa phương chú trọng đầu tư hạ tầng phục vụ sản xuất, phát huy thế mạnh nông nghiệp, thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong chế biến nông sản, tận dụng phụ phẩm như bã cà phê để tạo ra những sản phẩm có giá trị cao hơn. Việc kết nối xúc tiến đầu tư, thương mại và phát triển thương mại điện tử cũng được kỳ vọng mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản.

Nếu thế hệ trước tìm cách khai hoang, làm cho đất đai sinh sôi, thì thế hệ hôm nay tiếp tục hành trình ấy bằng tri thức, công nghệ và những phương thức sản xuất mới. Từ nền tảng được gây dựng qua nhiều thế hệ, vùng đất đang đứng trước cơ hội nâng cao giá trị nông sản, cải thiện đời sống và phát triển bền vững hơn.
.jpg)
Với những người đã trải qua thời kỳ gian khó, sự đổi thay hôm nay là niềm vui khó diễn tả hết. Những thanh niên từng rời Hà Nội khi tuổi đời còn rất trẻ nay đã bước vào tuổi xế chiều. Trong ký ức của họ vẫn còn những ngày đầu thiếu thốn, những người đồng đội, những mái nhà đầu tiên và những mùa vụ nuôi sống gia đình.

Kỷ niệm 50 năm Vùng kinh tế mới Hà Nội tại Lâm Đồng vì thế không chỉ là dịp nhìn lại những thành quả đã đạt được, mà còn là dịp tri ân những người mở đất, nhắc nhớ về một giai đoạn lịch sử đặc biệt, khi khát vọng xây dựng cuộc sống mới được gửi gắm vào những bước chân rời xa quê cũ.

Từ những con đường mở bằng sức người, những căn nhà dựng giữa vùng đất hoang sơ đến những vùng cà phê, dâu tằm, cây ăn quả hôm nay, hành trình ấy được viết bằng lao động, sự kiên trì và tình đoàn kết. Lâm Hà không đơn thuần là sự ghép nối của hai địa danh, mà còn là biểu tượng của hai miền quê cùng bén rễ, cùng vun đắp một tương lai chung.
.jpg)
Đất đã lành, người đã bén rễ. Những mùa cà phê tiếp tục nối nhau trên cao nguyên, những lớp học vẫn mở cửa đón trẻ thơ, những thế hệ mới đang viết tiếp câu chuyện của cha ông bằng tri thức, khát vọng và niềm tin.
Từ gian khó của buổi đầu khai phá đến sức sống hôm nay, hành trình 50 năm nhắc mỗi người rằng quê hương không chỉ là nơi ta sinh ra, mà còn là nơi được dựng xây bằng cả cuộc đời, bằng tình yêu và những điều tốt đẹp trao truyền qua các thế hệ.

Nội dung, ảnh: Hoàng Sa - Chính Thành
Trình bày: Hoàng Anh
(Bài viết có sử dụng hình ảnh tư liệu)

