Emagazine-Longforms Kỷ niệm 80 năm ký kết Tạm ước Việt - Pháp (14/9/1946 - 14/9/2026)

80 năm trước, từ Đà Lạt đến Paris

Minh Đạo 13/09/2026 09:23

Tròn 80 năm trước, năm 1946, tại Paris, Cộng hòa Pháp, Hội nghị Tạm ước ngày 14/9 là một giải pháp chính trị linh hoạt, tài tình của Chính phủ Việt Nam trên nghị trường tranh đấu ngoại giao với Chính phủ Pháp. Cuộc đấu trí ấy bắt đầu từ Đà Lạt bằng Hội nghị trù bị suốt 3 tuần từ cuối tháng 4 đến đầu tháng 5 năm 1946, đây là những bài học quý để Chủ tịch Hồ Chí Minh và phái đoàn Chính phủ Việt Nam đưa ra những ứng xử thông minh đối với Chính phủ Pháp tại Paris những tháng sau đó.

id-preview-907b5647-2f74-41af-9452-c580682455db.lovable.app-__l5e-assets-v1-32d103f0-1c52-4769-8433-8843b309375c-_cover.png
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Tạm ước Việt - Pháp ngày 14/9/1946 tại Paris. (Ảnh: Tư liệu khai thác)

Soạn sửa cho cuộc điều đình chính thức tại Pháp

Ngày 6/3/1946, Việt Nam và Pháp ký một hiệp ước giữa 2 nước, gọi là Hiệp định sơ bộ Việt - Pháp ngày 6 tháng 3 (gọi tắt là Hiệp định sơ bộ). Hiệp định sơ bộ có hiệu lực thực thi, phía Việt Nam nghiêm chỉnh thực hiện những điều đã ký nhưng phía Pháp liên tiếp vi phạm hiệp định. Ngày 13/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị Chính phủ Pháp khẩn trương mở cuộc đàm phán chính thức ở Paris, như Hiệp định sơ bộ đã quy định. Phía Pháp chấp thuận và đề xuất tổ chức hội nghị tại Đà Lạt để tránh áp lực từ nhân dân. Hồ Chủ tịch và Cao ủy d’Argenlieu đã thống nhất hội nghị trù bị giữa 2 đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam và Pháp tại Đà Lạt; đồng thời cũng thống nhất một số điểm khác là: phái đoàn Quốc hội Việt Nam sẽ thăm hữu nghị Quốc hội Pháp vào trung tuần tháng 4/1946; sau cuộc trù bị, nửa cuối tháng 5/1946 sẽ có một đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam sang Pháp để tiến hành cuộc thương lượng chính thức với phía Pháp tại Paris; nhân dịp này, Chính phủ Pháp mời Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm chính thức nước Pháp.

id-preview-907b5647-2f74-41af-9452-c580682455db.lovable.app-__l5e-assets-v1-eb503fad-7257-4e1f-bd80-a7622bc3c8c2-_anh-1.jpg
Địa điểm khai mạc Hội nghị trù bị Đà Lạt (Trường Cao đẳng Đà Lạt hiện nay). (Ảnh: Phan Minh Đạo)
Có tên Hội nghị trù bị Đà Lạt bởi theo Giáo sư Hoàng Xuân Hãn, thành viên đoàn của Việt Nam, đây là Hội nghị “có tính cách soạn sửa cho cuộc điều đình chính thức tại Pháp”.
Phái đoàn Việt Nam đến Đà Lạt gồm 12 đại biểu và 12 cố vấn. Trưởng đoàn là Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Tường Tam, Phó trưởng đoàn là Võ Nguyên Giáp (Chủ tịch Quân ủy hội) và các ông: Vũ Văn Hiền, Hoàng Xuân Hãn, Trịnh Văn Bính, Nguyễn Mạnh Tường, Dương Bạch Mai, Phạm Ngọc Thạch (sau Hồ Hữu Tường thay), Bùi Công Trừng, Cù Huy Cận, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Văn Luyện. Các cố vấn gồm: Phạm Khắc Hòe, Nguyễn Văn Huyên, Tạ Quang Bửu, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Tường Thụy, Nguyễn Duy Thanh, Kiều Công Cung, Nguyễn Văn Phác... Phái đoàn Pháp cũng gồm 12 phái viên, Trưởng đoàn là Max André.

Hội nghị Đà Lạt có ảnh hưởng lớn về sau

Trước khi lên đường vào Đà Lạt, Chính phủ và Hồ Chủ tịch đã họp với đoàn. Ông Hoàng Xuân Hãn cho biết: “Cụ Chủ tịch dặn phải trù bị mọi việc cho thận trọng, vì hội nghị này sẽ có ảnh hưởng lớn về sau”.

Sáng sớm ngày 16/4/1946, phái đoàn Việt Nam rời Hà Nội. Do máy bay hỏng phải hạ cánh tại sân bay Pakse của nước Lào, đến chiều hôm sau mới tiếp tục bay vào Đà Lạt. Vùng đất cao nguyên Lâm Viên được Giáo sư Hoàng Xuân Hãn tả lại trong bài viết “Một vài kí vãng về Hội nghị Đà Lạt”, tháng 10/1971: “Hết rừng rậm đến rừng khô, rồi đến cao nguyên cỏ bụi. Máy bay bắt mồi được một ngọn sông chảy từ Bắc xuống Nam. Rồi thấy có hồ dài, có đường quanh co. Tàu đâm xuống một quả núi cây, rồi trượt dài trên một bãi cỏ dốc. Đó là sân bay Liên Khang gần phía Nam Đà Lạt. Đồng hồ chỉ 4 giờ 15”. Sân bay này bây giờ gọi là Sân bay Liên Khương.

Sau 1 ngày thăm dò và có những lúc căng thẳng trong giao tiếp ban đầu, 9 giờ 00 ngày 19/4, Hội nghị khai mạc tại Trường Trung học Yersin (Grand Lycée Yersin), nay là Trường Cao đẳng Đà Lạt, đường Yersin, phường Xuân Hương - Đà Lạt. Nội dung chủ yếu là 2 bên lập các ủy ban và định các chương trình hội nghị. Phía Việt Nam, các Chủ tịch Ủy ban gồm: Ủy ban Chính trị là Hoàng Xuân Hãn, Ủy ban Kinh tế và Tài chính là Trịnh Văn Bính, Ủy ban Quân sự là Võ Nguyên Giáp và Ủy ban Văn hóa là Nguyễn Mạnh Tường.

id-preview-907b5647-2f74-41af-9452-c580682455db.lovable.app-__l5e-assets-v1-a725003c-4857-4ca4-b01b-fd38b0ad2849-_anh-4.jpg
Phòng họp khai mạc Hội nghị trù bị (hiện nay là nơi học tập và hội họp của Trường Cao đẳng Đà Lạt). (Ảnh: Phan Minh Đạo)

Trước và trong quá trình hội nghị, phía Pháp đã liên tục kiếm cớ gây khó dễ cho đoàn Việt Nam. Phía Việt Nam “đã làm trọn nghĩa vụ không hao tổn quốc thể, đã biết cương quyết và hòa nhã...” (Hoàng Xuân Hãn).

Những ngày sau đó, các cuộc họp giữa cấp ủy ban và toàn thể diễn ra tại khách sạn Langbian (Dalat Palace hiện nay). Nơi đây vừa có phòng nghỉ của các phái viên vừa có phòng tổ chức hội nghị. Căn phòng diễn ra các cuộc họp của Hội nghị trù bị có diện tích khoảng 40 m². 2 trưởng đoàn nghỉ ở khách sạn Hoa Viên (nay là Du Parc Hotel Dalat), sang trọng hơn và cách khách sạn Langbian chỉ một con đường, nay là đường Trần Phú, phường Xuân Hương - Đà Lạt.

id-preview-907b5647-2f74-41af-9452-c580682455db.lovable.app-__l5e-assets-v1-795c2e62-0f20-4be0-b39b-b5fad1a086b6-_anh-2.jpg
Tòa nhà này vừa là nơi ở vừa là nơi diễn ra phần lớn các cuộc họp của Hội nghị trù bị Đà Lạt (Dalat Palace hiện nay). (Ảnh: Phan Minh Đạo)
id-preview-907b5647-2f74-41af-9452-c580682455db.lovable.app-__l5e-assets-v1-1e5a9cf0-b0d5-4469-b7d9-105bf7befc9c-_anh-3.jpg
Khách sạn Hoa Viên (nay là Du Parc Hotel Dalat) là nơi nghỉ của 2 trưởng đoàn Việt Nam và Pháp. (Ảnh: Phan Minh Đạo)

Trong suốt hơn 3 tuần đàm phán, phía Pháp luôn thể hiện lập trường chia cắt Việt Nam, không công nhận Việt Nam có quyền ngoại giao, không bàn đến Nam Bộ nhằm thực hiện âm mưu tách Nam Bộ ra khỏi Việt Nam... Phía Việt Nam kiên quyết phản đối lập trường và hành động cố tình phá hoại hội nghị của phía Pháp. Vì những bất đồng căn bản giữa 2 bên nên Hội nghị Đà Lạt kết thúc ngày 11/5/1946.

Tuy không đạt được những thỏa thuận của mỗi bên nhưng tại buổi họp bế mạc cả phía Việt Nam và Pháp đều thừa nhận hiểu rõ về lập trường của nhau. Trưởng đoàn Việt Nam Nguyễn Tường Tam nói tại buổi họp cuối cùng của 2 bên: “Những đề nghị Việt Nam là vừa muốn liên hiệp Pháp vừa bảo vệ sự tự do của mình. Sự định đoạt sẽ giành cho Hội nghị Paris”.

Ngày 13/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị Chính phủ Pháp khẩn trương mở cuộc đàm phán chính thức ở Paris, như Hiệp định sơ bộ đã quy định. Phía Pháp chấp thuận và đề xuất tổ chức hội nghị tại Đà Lạt để tránh áp lực từ nhân dân. Hồ Chủ tịch và Cao ủy d’Argenlieu đã thống nhất hội nghị trù bị giữa 2 đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam và Pháp tại Đà Lạt.
id-preview-907b5647-2f74-41af-9452-c580682455db.lovable.app-__l5e-assets-v1-ae671039-767f-4d1c-8144-01d5fb7f09fa-_anh-5.jpg
Thông tin Hội nghị trù bị được cập nhật đăng trên tờ Tin Điển năm 1946. (Ảnh: Phan Minh Đạo)

“Người nước ta biết tranh đấu, biết công tác và biết đoàn kết”

Ngày 12/5, phái đoàn Việt Nam trở về Hà Nội và sáng hôm sau ra mắt Chính phủ. Cũng theo Hoàng Xuân Hãn, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Hoan nghênh phái bộ Hội nghị trù bị. Tuy kết quả chưa đủ, nhưng phái bộ đã làm cho nước Pháp và ngoại quốc biết rõ ràng người nước ta biết tranh đấu, biết công tác và biết đoàn kết...”. Cụ Phó Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng thì nói: “Mừng đoàn kết trong phái đoàn và tất cả toàn dân phải đoàn kết để đánh đổ âm mưu chiếm đoạt của thực dân”.

“Phải tiếp tục tranh đấu tại Hội nghị Paris”, câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại buổi gặp mặt kết thúc hội nghị của phái đoàn là sự khẳng định những giá trị của quốc gia Việt Nam: yêu chuộng hòa bình, kiên định bảo vệ độc lập Tổ quốc, nỗ lực phấn đấu giành sự tự do và hạnh phúc cho nhân dân.

Hội nghị trù bị Đà Lạt chưa thành công như mong đợi nhưng là những bài học lớn cho Việt Nam về ngoại giao và đặc biệt là cơ sở quan trọng để tiến hành Hội nghị Fontainebleau vào ngày 6/7/1946 do Phó Trưởng ban Thường trực Quốc hội Phạm Văn Đồng được Hồ Chủ tịch cử làm trưởng đoàn sang Pháp đàm phán. Các thành viên cùng đi gồm có Phan Anh, Bửu Hội, Hoàng Minh Giám, Nguyễn Văn Huyên, Trịnh Văn Bính, Đặng Phúc Thông, Dương Bạch Mai, Tạ Quang Bửu, Nguyễn Mạnh Hà, Chu Bá Phượng, và Huỳnh Thiện Lộc. Các chuyên viên có Phạm Khắc Hòe, Nguyễn Đệ, Hoàng Văn Đức, Vũ Trọng Khánh, Hồ Đắc Liên, Nguyễn Văn Luyện, Nguyễn Văn Tịnh và Nguyễn Đắc Khê.

Trong quá trình đàm phán, phái đoàn Việt Nam nhất quán theo đuổi các mục tiêu về độc lập chính trị và thống nhất Việt Nam. Diễn biến những ngày cuối của Fontainebleau cho thấy rõ hơn nghệ thuật “nhân nhượng có nguyên tắc” mà sau này trở thành đặc trưng trong đường lối ngoại giao của Việt Nam.

Hội nghị Fontainebleau 1946 không khép lại tiến trình thương lượng, trái lại, đã tạo ra những tiền đề để tiếp tục đàm phán, trong đó Tạm ước Việt - Pháp ngày 14/9/1946 (Tạm ước 14/9) do Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt bút ký là một minh chứng thuyết phục về hệ quả. Tạm ước 14/9 là một giải pháp chính trị linh hoạt, tài tình nhằm bảo vệ Hiệp định sơ bộ 6/3/1946, cứu vãn Hội nghị Fontainebleau và kéo dài thêm một khoảng thời gian hòa bình quý giá cho Việt Nam để tiếp tục xây dựng, củng cố lực lượng cho tới ngày Toàn quốc kháng chiến 19/12/1946.

    80 năm trước, từ Đà Lạt đến Paris
    • Mặc định
    POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO