Truyện ngắn

Bà giáo làng nghề

Hồ Việt Khuê . 13/06/2026 05:03

Bà Xôi buông thỏng cây chổi chà dính mạng nhện, thẫn thờ tựa lưng vào đống củi khô chất đầy góc chái bếp. Trước khung dệt, một con bé loắt choắt, đen đúa, tấm lưng gầy còm xoay về phía bà, tay thoăn thoắt đưa thoi hiện rõ mồn một làm bà dụi mắt lia lịa. Mắt bà nhòe nhoẹt màn sương mỏng, con bé bỗng tháo sợi dây quàng sau mông cột vào khung dệt, chậm rãi uốn lưng cho đỡ mỏi rồi bước thẳng vào luồng ánh sáng yếu ớt xuyên qua khung cửa hẹp. Con bé không ngoái nhìn nhưng bà Xôi biết đó là hình ảnh của mình gần nửa thế kỷ trước.

Minh hoa
Minh họa: Lý Long

Năm mười tuổi, con bé Xôi đã bắt đầu làm quen với việc hái bông, quay xa, suốt chỉ, dệt vải, nhuộm màu… Ngày đó, người làm nghề dệt vải phải tự trồng bông, quay sợi. Mùa bông, cả cánh đồng làng trắng xóa, các cô thiếu nữ cười ra rích với chiếc gùi trên lưng, lom khom hái từng trái bông xòe nở lấp lóa nắng. Đêm về, tiếng xa quay kéo sợi man mác buồn cả không gian, làm cô thiếu nữ Xôi bâng khuâng ngước nhìn vầng trăng treo muộn trên tàu cau loang loáng ánh bạc, nghe lòng mình còn xao xuyến vì ánh mắt của chàng trai lùa đàn trâu qua ngõ lúc sẫm chiều. Mỗi sáng mỗi chiều, ngâm sợi, đập sợi cho sạch chất bẩn, rồi phơi sợi trên dây sào tre cho thật khô để sẵn sàng mắc vào khung cửi. Những hoa văn nhiều màu sắc làm nên vẻ đẹp của vải thổ cẩm Chăm được tạo bằng sợi màu nhuộm bằng nước cốt của các loại lá, rễ, trái cây trên rừng; pha trộn với vôi hay vài loại đá nghiền nát lấy ở thung sâu. Có những người đàn ông cõng xe trâu vào rừng hằng tháng trời săn tìm nguyên liệu để pha chế các sắc màu không nhạt phai dù trải qua bao mùa trăng, đến khi vải đã sờn rách mà sắc màu nguyên thủy vẫn tươi tắn, đậm đà. Có những đêm, âm vang tiếng chày khuya giã rễ cây, lá cây làm lay động cả vầng trăng treo nghiêng trên tháp cổ; hòa âm tiếng thoi dệt, tiếng đập mặt vải buồn buồn trong góc chái bếp đặt khung cửi thơm mùi bông sợi, cây cỏ; tạo nên dòng âm thanh trữ tình buồn xa vắng của một miền thôn dã.

Mùa dệt năm đó không bao giờ nguôi ngoai trong trí nhớ đã nhiều mù sương của bà Xôi. Đó là mùa dệt mà cô Xôi bắt cái chồng. Đó là năm đầu tiên anh Ngo khỏe như con trâu đực, làm quần quật cả ngày trên đồng không biết mệt mỏi ở rể nhà cô Xôi. Một sáng còn mờ sương, anh Ngo và em trai cô Xôi đánh xe trâu vào rừng, chuyến đi sẽ kéo dài cả con trăng để tìm cây chàm pha chế thành màu xanh; tìm cây jung tước bó vỏ ngâm với phèn chua để pha chế thành màu vàng; tìm cây điệp hay cánh kiến đỏ để pha chế thành phẩm nhuộm màu đỏ thẫm; lấy trái mun pha chế thành màu đen… Nhưng mới mấy ngày sau, em trai cô Xôi băng rừng về đến nương lúa mẹ thì gục ngã, người đầm đìa máu do vết thương bị cọp vồ; còn người chồng đang ở rể của cô Xôi đã bị cọp ăn mất xác. Anh Ngo đã dũng cảm chống trả với móng vuốt của ông ba mươi để cứu người em vợ. Nỗi đau của cô Xôi sau nhiều năm mới nguôi ngoai.

Bây giờ, kỹ thuật nhuộm màu đã chôn theo các người già, dưới mồ hay theo tro bụi của xác thân họ được gió mang đi qua triền núi, khe suối; mà có người già nào sống dai như núi đá thì cây mun, cây điệp, cây chàm cũng không còn để lấy nước cốt làm màu đen, màu đỏ, màu chàm cho người thợ dệt nhuộm sợi làm hoa văn, nhuộm vải màu may chăn cho các cô thiếu nữ. Bây giờ, người thợ dệt đã có sẵn sợi để dệt vải, có sẵn chỉ màu kim tuyến lóng lánh để bắt hoa văn. Sợi dệt vải mịn màng, không dễ đứt như sợi bông thô ráp thuở bà Xôi còn ngồi trước khung dệt. Sợi kim tuyến bóng bẩy, nhiều màu sắc để người thợ dệt tha hồ tô điểm những hình thù, đường nét. Hoa văn là linh hồn của tấm vải mà đôi bàn tay uyển chuyển của người phụ nữ Chăm vừa rời cây quạt trong điệu múa truyền thống dân tộc, vừa thay chăn áo hội hè, tai còn văng vẳng tiếng kèn saranai, tiếng trống paranưng, tiếng trống ghinăng… đã ngồi trước khung dệt thể hiện hoa văn cách điệu núi non, sông suối bằng các đường nét hình khối hình kỷ hà; hay chấm phá bằng sợi màu hình dáng con công, con thiên nga, con rồng Chăm Girai; hay chỉ đơn giản kịp hoàn tất các tấm vải trắng, vải màu cho các cô cậu bước vào tuổi mười lăm may áo, may chăn làm lễ nhập môn đạo Bà Ni; cho mọi người xênh xang bộ áo quần truyền thống trong ngày lễ hội của dân tộc. Nhiều mẫu hoa văn phong phú trên vải người mặc giúp phân biệt được các thứ hạng người trong xã hội Chăm, ngày nay đã thất truyền và đến một ngày sẽ biến mất hẳn hay sao. Bà Xôi xót xa nghĩ tới điều này, dù có thể ngày đó đến thì bà đã không còn.

Bà Xôi nhớ mình đã hồi hộp và náo nức như thế nào lúc chuẩn bị làm Lễ Karơh, tức làm lễ nhập môn đạo Bà Ni. Con bé Xôi còn hai tháng nữa tròn mười lăm tuổi đã tự dệt cho mình tấm vải màu kẻ sọc ca rô rực rỡ để may cái chăn quấn đến trên ngực. Các bạn của con bé Xôi cũng được sư cả làm lễ trong thánh đường ngày hôm đó đều tự dệt vải may chăn áo cho mình chớ không phải như ngày nay, bọn con gái mười lăm tuổi chẳng biết gì về quay sợi, dệt vải. Chúng chỉ toàn mua vải người khác dệt để may chăn áo mặc trong ngày lễ trọng đại của cuộc đời mình. Ngay như con gái Thanh Trúc của bà Xôi, chỉ còn hơn tháng nữa là đến ngày làm Lễ Karơh mà nó có lo gì đến bộ lễ phục phải mặc, hễ rỗi rảnh là nó lại có mặt ở quán net trong xóm, chat với chít cả ngày.

Sau khi lục lọi tận đáy rương vẫn không ưng ý tấm vải màu nào để dùng may chăn cho con gái, bà Xôi cắp nón sang làng bên. Tại sao ở làng bà không ai làm sống lại nghề dệt thổ cẩm để góp phần giải quyết việc làm cho bà con lúc liềm hái đã giắt lên mái tranh chái bếp, cây rơm đã đổ bóng góc vườn; cho người phụ nữ có thêm đồng ra đồng vào lúc giáp hạt và bảo tồn một nghề truyền thống của dân tộc. Bà Xôi thẫn thờ tự hỏi.

* * *

Bà Xôi cho đặt ba cái khung dệt đen sậm màu gỗ lâu năm lên nhà trên, hai khung của bà và một khung bà xin được ở xó bếp nhà một người bạn. Bà gửi mua sợi, chỉ màu kim tuyến tận Sài Gòn. Cái khó khăn của bà Xôi là vận động được các cô gái thích ngồi quán hát karaoke hay chat chít hơn ngồi trước khung dệt để học nghề.

Con bé Lang là học trò đầu tiên của bà Xôi. Lang bị thọt một chân, không làm việc nặng nhọc được, chỉ ngồi nhà nặn cái pụ, cái cà ràng, cái trã bằng đất nhưng mấy năm nay chỉ còn ít người dùng nên nó không có việc làm. Nghề gốm của làng bà rồi sẽ không còn, nhiều nhà đã dùng bếp ga thay than củi, dùng những cái soong bằng nhôm hay inox sáng bóng, mấy ai còn dùng cái cà ràng hay cái trã đất. Cũng đúng thôi, các vật dụng nấu nướng tiện lợi được bán đầy cửa hiệu, chợ búa thì tội tình chi phải dùng những vật bằng đất dễ vỡ đã có từ ngàn năm trước.

Nhưng nghề dệt vải của làng bà nhất định phải tồn tại, bất chấp những xưởng dệt đầy máy móc, những sợi chỉ ni-lông nhiều màu sắc, những mẫu mã bắt mắt vì trên từng đường nét hoa văn trong tấm vải Chăm của làng bà chứa đựng cả linh hồn một dân tộc.

Lang siêng năng làm bà Xôi mừng lắm, con bé tật nguyền chăm chỉ nên bà nào tiếc công xá truyền nghề dệt cho nó. Thôi thì không còn tự trồng bông, quay sợi, nhuộm màu bằng hoa lá tự nhiên; những tấm vải thổ cẩm dệt bằng sợi tổng hợp sẽ vớt vát phần nào lòng tự trọng của người phụ nữ không ăn không ngồi rồi, trong khi chờ gốc rạ rã mục chuẩn bị cho mùa gieo gặt mới, cả làng lại lách cách tiếng thoi dệt dưới mỗi mái nhà. Lang sáng dạ lắm, chỉ học tuần lễ đã thạo cách bắt mối sợi, bỏ con thoi; cách nó dùng cái roi nhỏ quất lên mặt vải cho căng đều sao mà giống bà hơn nửa thế kỷ trước, nhịp tay uyển chuyển rất khoan thai.

Bà Xôi mang mấy tấm vải mà bà và con Lang dệt, gửi người quen bán sạp hàng ở khu du lịch ven biển cách làng mười cây số, bà chỉ gửi hú họa nhưng không ngờ tuần lễ sau bà chủ sạp hàng nhắn đến lấy tiền, và còn đặt thêm hàng mới: loại vải khổ lớn để may chăn, làm khăn bàn, còn loại vải khổ nhỏ để may túi xách, khăn quấn đầu. Bây giờ bà Xôi mới biết là những người khách nước ngoài thích mua sản vật ở địa phương để làm kỷ niệm cho chuyến du lịch của họ. Bà Xôi chỉ trừ tiền sợi, chỉ màu còn Lang hưởng trọn tiền công; bà đâu có tính thiệt hơn, bà chỉ muốn cái nghề truyền thống của làng quê bà không bị biến mất. Thấy Lang dệt vải ra tiền, vài người bạn của Lang đến xin bà Xôi học nghề. Bà Xôi vui lắm, con gái bà không muốn học nghề của mẹ nó thì bà sẽ truyền cho người cùng làng, người làng bên vậy. Bà Xôi phải mua lại các khung dệt cũ bám bụi, hư hỏng để sửa chữa và làm thêm cái chái bên hiên nhà mới đủ chỗ đặt mười khung dệt cho mười cô học trò.

* * *

Bà Xôi ngỡ ngàng khi có mấy người nước ngoài theo chân Thanh Trúc vào nhà. Thanh Trúc vui mừng báo tin đó là khách muốn mua sản phẩm dệt thủ công từ bàn tay khoan thai của các thiếu nữ Chăm. Vậy mà lâu nay bà Xôi cứ mắng mỏ con gái thích ngồi quán net hơn ngồi trước khung dệt, thì ra Thanh Trúc đã mở một trang web, âm thầm chụp ảnh các sản phẩm rồi giới thiệu trên mạng; cô trao đổi email với những người quan tâm và mời họ đến thăm cơ sở dệt của làng Chăm của má cô. Người phiên dịch tỉ mỉ hỏi bà Xôi từng thao tác quay sợi, bắt hoa văn, dệt vải rồi xì xồ hàng tràng với khách nước ngoài; những người khách đến từ xứ xa gật gù ra chiều thích thú lắm, càng làm cho các cô thợ dệt hưng phấn múa đôi bàn tay tài hoa trên khung cửi.

Một hợp đồng nhanh chóng được ký kết vì khách đã nghiên cứu và trao đổi với Thanh Trúc từ trước. Khách đặt mua số lượng lớn vải để may áo sơ mi, váy cho phụ nữ, rèm cửa, khăn trải bàn… Và hứa hẹn bao tiêu sản phẩm dệt của làng Chăm để bán đi các nơi. Tiễn khách ra ô tô đậu dưới bóng mát cây me cổ thụ bên giếng làng, Thanh Trúc nhảy chân sáo bên mẹ, cô trêu:

- Mẹ thấy con gái mẹ giỏi không? Mẹ có còn mắng con la cà tiệm net mòn mông nữa thôi!

Bà Xôi cười móm mém, âu yếm nhìn đứa con gái phổng phao, xinh đẹp; bà lờ mờ hiểu vì sao sản phẩm dệt thủ công độc đáo của làng Chăm bà không được nhiều người biết đến và sử dụng, có thể thất truyền theo thời gian. Lớp thợ dệt của bà chỉ biết làm ra sản phẩm, trao đổi trong cộng đồng nhỏ hẹp quanh lũy tre làng; còn thế hệ của Thanh Trúc với phương tiện truyền thông hiện đại đã mang từng mẫu vải, từng nét hoa văn gõ cửa mọi nhà.

Từ đó, bà Xôi được các cô thợ dệt và dân làng trìu mến gọi là bà giáo. Bà giáo Xôi dạy mọi người cái nghề truyền thống của làng tưởng chừng đã mai một theo thời gian, không chỉ giúp người làng có thêm đồng quà tấm bánh trong những ngày liềm hái gặt mái tranh, mà còn giới thiệu được một mảng đời sống văn hóa của quê hương mình ra thế giới.

Ghi chú: (*)
Pụ: Vò (dùng chứa nước)
Cà ràng: lò (dùng đốt củi hay đốt than)
Trã: nồi (dùng nấu cá, thịt).

x

Nổi bật

    Mới nhất
    Bà giáo làng nghề
    • Mặc định
    POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO