Bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945: Từ áng văn lập quốc đến khát vọng vươn mình của Thanh niên Việt Nam trong kỷ nguyên mới
Hướng tới kỷ niệm 80 năm ngày Quốc khánh (02/9/1945 - 02/9/2025), cả dân tộc Việt Nam lại bồi hồi nhớ về thời khắc lịch sử thiêng liêng.
.jpg)
Hướng tới Kỷ niệm 80 năm ngày Quốc khánh (2/9/1945 - 2/9/2025), cả dân tộc Việt Nam lại bồi hồi nhớ về thời khắc lịch sử thiêng liêng. Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, trước hàng chục vạn đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng đọc Bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Sự kiện trọng đại này không chỉ là dấu mốc vàng son chấm dứt hơn 80 năm đô hộ của thực dân Pháp và hàng ngàn năm chế độ phong kiến, mà còn mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc - kỷ nguyên của độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.

Bản Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện lịch sử mang tầm vóc thời đại, một kiệt tác chính luận kết tinh những giá trị sâu sắc về tư tưởng, pháp lý, chính trị, đạo lý và nhân văn. Nó không chỉ là nền tảng pháp lý vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mà còn là lời hiệu triệu, nguồn cổ vũ mãnh liệt cho các dân tộc thuộc địa trên toàn thế giới đứng lên đấu tranh giành quyền sống, quyền tự do cho dân tộc mình.

Trong bối cảnh đất nước đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, với khát vọng vươn mình trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, những giá trị bất hủ của Tuyên ngôn Độc lập năm xưa tiếp tục là ngọn đuốc soi đường, khơi dậy mạnh mẽ ý chí tự cường, khát vọng cống hiến và định hình trách nhiệm lịch sử của thế hệ thanh niên Việt Nam.
.jpg)
Được ví như một “thiên cổ hùng văn”, Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 là sự tổng hòa tuyệt vời giữa những giá trị truyền thống dân tộc với tinh hoa văn hóa nhân loại, tạo nên một nền tảng pháp lý và tinh thần vững chắc cho nền độc lập và sự phát triển trường tồn của Việt Nam.

* Nền tảng pháp lý và chính trị cho một quốc gia độc lập
Trước hết, Tuyên ngôn Độc lập là văn kiện lập quốc, văn bản pháp lý khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bằng lời tuyên bố trang trọng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập”, văn kiện đã chính thức tuyên bố trước toàn thế giới về sự ra đời của một nhà nước mới, xóa bỏ mọi hiệp ước, văn kiện pháp lý của chế độ thực dân, phong kiến, thiết lập một chế độ dân chủ nhân dân.

Sức mạnh pháp lý của Tuyên ngôn còn nằm ở phương pháp lập luận sắc bén, đanh thép và đầy tính nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người đã trích dẫn những câu nói bất hủ trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791. Đây là một nước cờ chính trị và pháp lý thiên tài. Bằng cách đó, Hồ Chí Minh không chỉ đặt cuộc đấu tranh chính nghĩa của Việt Nam vào dòng chảy chung của văn minh nhân loại, mà còn sử dụng chính ngọn cờ tự do, bình đẳng mà các nước đế quốc luôn rao giảng để lên án hành động xâm lược của họ. Đó là nghệ thuật “gậy ông đập lưng ông” bậc thầy, buộc đối phương phải thừa nhận tính chính đáng của nền độc lập Việt Nam trên cơ sở những giá trị phổ quát mà chính họ đã tuyên bố.

* Sự kết tinh và nâng tầm truyền thống dân tộc
Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 không phải là một hiện tượng đơn lẻ, mà là đỉnh cao của dòng chảy lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc. Nó là sự tiếp nối và phát triển lên một tầm cao mới hào khí của “Nam quốc sơn hà” thời Lý Thường Kiệt - bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên khẳng định chủ quyền lãnh thổ và khí phách của “Bình Ngô đại cáo” thời Nguyễn Trãi - bản cáo trạng tội ác giặc Minh và lời tuyên bố hùng hồn về nền văn hiến và nền độc lập Đại Việt. Cả ba áng văn bất hủ đều hội tụ ở ý chí kiên quyết bảo vệ chủ quyền, tự do và lòng tự hào dân tộc.


Hơn thế nữa, Tuyên ngôn là kết quả trực tiếp của tinh thần tự lực, tự cường, của ý chí “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám không phải là sự ban ơn của bất kỳ thế lực bên ngoài nào, mà là thành quả của sự vùng lên của toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, sau gần một thế kỷ bị đọa đày, áp bức. Từng câu chữ trong Tuyên ngôn toát lên khí phách hiên ngang của một dân tộc anh hùng, không bao giờ cam chịu làm nô lệ. Sức mạnh làm nên chiến thắng vĩ đại đó chính là khối đại đoàn kết toàn dân tộc, được Tuyên ngôn khơi dậy và củng cố, trở thành nguồn sức mạnh vô địch, nền tảng vững chắc cho mọi thắng lợi sau này.

* Tiếng nói tiên phong của các dân tộc bị áp bức và định hình trật tự thế giới mới
Vượt ra khỏi biên giới quốc gia, Tuyên ngôn Độc lập đã trở thành ngọn đuốc soi đường, nguồn cổ vũ mạnh mẽ cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên toàn thế giới trong thế kỷ XX. Trong bối cảnh phần lớn các quốc gia châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh còn đang chìm trong đêm dài nô lệ, tuyên bố độc lập của Việt Nam đã giáng một đòn chí mạng vào hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, chứng minh một chân lý: Một dân tộc dù nhỏ bé nhưng nếu đoàn kết và quyết tâm chiến đấu vì độc lập, tự do thì hoàn toàn có thể chiến thắng những đế quốc hùng mạnh. Việt Nam đã trở thành biểu tượng, là nguồn cảm hứng cho hàng loạt quốc gia thuộc địa vùng lên giành lại chủ quyền.



Bên cạnh đó, Tuyên ngôn còn là một bản cáo trạng hùng hồn, vạch trần tội ác của chủ nghĩa thực dân. Hồ Chí Minh đã liệt kê một cách hệ thống những chính sách tàn bạo, phi nhân tính của thực dân Pháp: “Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học... Chúng thi hành những luật pháp dã man... Chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều”. Người cũng tố cáo hành động hèn nhát, phản bội của Pháp khi đã “bán nước ta hai lần cho Nhật”. Những lời lẽ đanh thép ấy không chỉ nói thay nỗi đau của Nhân dân Việt Nam mà còn là tiếng nói chung cho nỗi thống khổ của hàng trăm triệu người dân thuộc địa trên toàn cầu.
.jpg)

.jpg)
Những giá trị của Tuyên ngôn Độc lập không chỉ thuộc về quá khứ hào hùng mà còn mang tầm nhìn chiến lược, tiếp tục là kim chỉ nam và nguồn cảm hứng cho khát vọng phát triển của dân tộc Việt Nam trong kỷ nguyên mới.



* Độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội - Con đường hướng tới hạnh phúc thực sự
Tuyên ngôn Độc lập không chỉ dừng lại ở việc giành lại chủ quyền, mà còn mở ra con đường xây dựng một xã hội mới. Đó là minh chứng sâu sắc cho chân lý mà Hồ Chí Minh và Đảng ta đã lựa chọn: Độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Bởi lẽ, độc lập mà Nhân dân vẫn đói khổ, lầm than thì độc lập đó không có ý nghĩa. Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội được thể hiện giản dị mà sâu sắc trong tư tưởng của Người: Xây dựng một xã hội nơi “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”, một xã hội thực sự do nhân dân làm chủ, vì hạnh phúc của Nhân dân. Đây chính là sự khác biệt về chất so với các cuộc cách mạng tư sản trước đó. Độc lập dân tộc là tiền đề, là điều kiện tiên quyết để xây dựng một chế độ mới ưu việt, nơi mọi giá trị đều hướng về con người.




* Phát huy sức mạnh nội sinh và tinh thần tự cường dân tộc

Lời tuyên bố ở cuối bản Tuyên ngôn: “Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy” chính là linh hồn, là lời thề sắt son của cả dân tộc. Lời thề ấy không chỉ có giá trị trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc mà còn là kim chỉ nam cho sự nghiệp kiến thiết đất nước hôm nay, với tinh thần cốt lõi là “dựa vào sức mình là chính”.
Tinh thần tự lực, tự cường đó được thể hiện rõ nét trong công cuộc Đổi mới. Việt Nam đã chủ động từ bỏ cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp để chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giải phóng sức sản xuất và khơi dậy tiềm năng sáng tạo của toàn dân. Ngày nay, tinh thần đó tiếp tục là động lực cho khát vọng xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ, có khả năng chống chịu trước những biến động của thế giới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển khoa học - công nghệ và khuyến khích khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, được hun đúc từ Cách mạng tháng Tám, tiếp tục là nhân tố quyết định, tạo nên sức mạnh tổng hợp để Việt Nam vượt qua mọi thách thức, từ đại dịch COVID-19 đến những bất ổn kinh tế toàn cầu.



* Nền tảng cho hội nhập quốc tế sâu rộng và chính sách ngoại giao “cây tre Việt Nam”
Tuyên ngôn Độc lập đã đưa Việt Nam từ một dân tộc vô danh trở thành một chủ thể bình đẳng trên trường quốc tế. Trên nền tảng độc lập, tự chủ đó, Việt Nam đã kiên trì thực hiện đường lối đối ngoại hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ. Đường lối này được cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đúc kết một cách hình tượng là “ngoại giao cây tre Việt Nam”: “gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển”. “Gốc vững” chính là độc lập, tự chủ, lợi ích quốc gia - dân tộc. “Thân chắc” là khối đại đoàn kết toàn dân. “Cành uyển chuyển” là sự linh hoạt, khôn khéo trong ứng xử với các mối quan hệ quốc tế phức tạp.

Nhờ đường lối đó, từ chỗ bị bao vây, cấm vận, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 193 quốc gia, có quan hệ kinh tế với hơn 230 nước và vùng lãnh thổ. Việc Việt Nam hai lần được bầu làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, đảm nhiệm thành công vai trò Chủ tịch ASEAN 2020, và nâng tầm quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với nhiều cường quốc trên thế giới đã minh chứng cho vị thế và uy tín quốc tế ngày càng cao của đất nước - một thành quả trực tiếp từ nền độc lập được khai sinh vào ngày 2/9/1945.












.jpg)
Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, thanh niên Việt Nam - lực lượng xã hội to lớn, năng động và sáng tạo - có trách nhiệm lịch sử trong việc kế thừa, phát huy những giá trị bất hủ của Tuyên ngôn Độc lập để hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

* Nuôi dưỡng lòng yêu nước, ý chí tự cường và khát vọng phát triển hùng cường
Thanh niên cần không ngừng học tập, tìm hiểu sâu sắc về lịch sử hào hùng của dân tộc, thấm nhuần giá trị của Tuyên ngôn Độc lập. Lòng yêu nước của thế hệ trẻ ngày nay không chỉ là cảm xúc tự hào, mà phải được chuyển hóa thành hành động cụ thể: Nuôi dưỡng khát vọng lớn, hoài bão lớn. Khát vọng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh mong mỏi: Xây dựng một nước Việt Nam “sánh vai với các cường quốc năm châu” ngày nay chính là mục tiêu chiến lược mà Đảng đã đề ra: đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; và đến năm 2045, trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Thanh niên phải là lực lượng xung kích, đi đầu trong việc hiện thực hóa khát vọng này bằng trí tuệ, sức trẻ và tinh thần đổi mới sáng tạo.
* Tích cực học tập, rèn luyện, làm chủ khoa học - công nghệ và hội nhập quốc tế
Để “sánh vai”, con đường duy nhất là con đường tri thức và công nghệ. Trong bối cảnh của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thanh niên phải là lực lượng tiên phong trong việc học tập, nghiên cứu, làm chủ các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), chuyển đổi số, chuyển đổi xanh. Việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, “trí thức hóa” người lao động trẻ, tạo ra năng suất lao động vượt trội là nhiệm vụ trung tâm. Đồng thời, thanh niên cần trang bị cho mình kỹ năng ngoại ngữ, kỹ năng mềm, tư duy toàn cầu để tự tin hội nhập, mang trí tuệ và bản sắc Việt Nam ra thế giới, đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa, tri thức của nhân loại để làm giàu cho quê hương.

* Góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Giá trị cốt lõi của Tuyên ngôn là “quyền con người” và “chính quyền của dân, do dân, vì dân”. Thanh niên cần tích cực tham gia vào công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thượng tôn pháp luật, góp phần xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Điều này thể hiện qua việc sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, tham gia vào các hoạt động xã hội, các phong trào tình nguyện vì cộng đồng, củng cố mối quan hệ đoàn kết giữa các tầng lớp Nhân dân, các dân tộc, tôn giáo, góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp của quốc gia.


* Kiên quyết bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch
Trong môi trường không gian mạng phức tạp, các thế lực thù địch không ngừng xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành quả của Cách mạng Tháng Tám và giá trị của Tuyên ngôn Độc lập. Hơn ai hết, thanh niên phải là những “chiến sĩ” kiên trung trên mặt trận tư tưởng. Điều đó đòi hỏi thanh niên phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, trang bị lý luận sắc bén, nâng cao “sức đề kháng” trước thông tin xấu độc, đồng thời chủ động, tích cực lan tỏa những thông tin tích cực, những câu chuyện đẹp về đất nước, con người Việt Nam, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn.

8 thập kỷ đã trôi qua, nhưng âm hưởng hào hùng của Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 vẫn vang vọng non sông, vẹn nguyên giá trị lịch sử và sức sống mãnh liệt. Nó mãi mãi là ngọn đuốc soi đường, là nguồn sức mạnh tinh thần to lớn để dân tộc Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thử thách, vững bước trên con đường phát triển. Kỷ niệm ngày Quốc khánh là dịp để thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay nhìn lại quá khứ hào hùng, tự hào về truyền thống vẻ vang của dân tộc, và nhận thức sâu sắc hơn về trách nhiệm của mình. Với tinh thần độc lập, tự chủ, tự cường và sức mạnh đại đoàn kết được hun đúc từ Tuyên ngôn Độc lập, thế hệ thanh niên Việt Nam nguyện sẽ tiếp nối xứng đáng sự nghiệp của cha ông, biến khát vọng vươn mình thành hành động cách mạng, ra sức học tập, lao động, sáng tạo, để hiện thực hóa mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc, vững bước sánh vai cùng các cường quốc năm châu như sinh thời Bác Hồ hằng mong ước.

Nội dung: Trung tá, ThS Nguyễn Quốc Duy
Trình bày: Nguyệt Nga - Nguyễn Hiền
(Bài viết có sử dụng một số ảnh tư liệu)








