Bảo vệ quyền tài sản trong cơ chế thu hồi không qua kết tội
Thảo luận tại nghị trường chiều 27/10 về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội thực hiện thí điểm cơ chế thu hồi và xử lý tài sản liên quan đến tội phạm không qua kết tội, đại biểu Dương Khắc Mai, Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng đề nghị làm rõ tiêu chí chứng cứ, điều kiện áp dụng và cơ chế kiểm soát các biện pháp phong tỏa, kê biên tài sản.

Theo đại biểu, cần bảo đảm hiệu quả thu hồi tài sản, đồng thời tránh áp dụng thiếu thống nhất, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người có tài sản, nhất là người thứ ba ngay tình.
Làm rõ căn cứ, điều kiện thu hồi tài sản
Chiều 27/10, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi), dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) và dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về thực hiện thí điểm cơ chế thu hồi và xử lý tài sản liên quan đến tội phạm không qua kết tội.

Góp ý đối với dự thảo Nghị quyết về cơ chế thu hồi và xử lý tài sản, đại biểu Dương Khắc Mai, Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng đánh giá cao việc cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp thu, giải trình nhiều ý kiến của ĐBQH. Tuy nhiên, qua nghiên cứu báo cáo giải trình, tiếp thu, đại biểu cho rằng một số nội dung cần tiếp tục được hoàn thiện để hạn chế nguy cơ áp dụng thiếu thống nhất và bảo đảm quyền tài sản hợp pháp.
Đại biểu tập trung góp ý vào 4 nhóm vấn đề: phạm vi tội phạm và tài sản được thu hồi; trường hợp, điều kiện áp dụng cơ chế; bảo vệ quyền của người thứ ba ngay tình; và kiểm soát các biện pháp phong tỏa, kê biên trong giai đoạn chuyển tiếp.
Đối với phạm vi tội phạm và tài sản được thu hồi quy định tại Điều 5, Điều 6 của dự thảo, đại biểu thống nhất với giải trình của cơ quan soạn thảo về việc giữ phạm vi các nhóm tội phạm theo định hướng thí điểm, cũng như cơ chế thu hồi tài sản có giá trị tương đương trong trường hợp không thể thu hồi tài sản gốc.

Theo đại biểu, việc cho phép thu hồi tài sản có giá trị tương đương nhằm hạn chế thất thoát tài sản liên quan đến tội phạm. Tuy nhiên, để cơ chế này được áp dụng thống nhất, dự thảo cần quy định cụ thể hơn về căn cứ xác định tài sản có liên quan đến tội phạm và phương pháp xác định giá trị tài sản tương đương. Đại biểu đề nghị làm rõ ngay tại Điều 6 các loại chứng cứ khách quan cần có để xác định mối liên hệ giữa tài sản với tội phạm theo điểm a khoản 1; đồng thời quy định cụ thể thời điểm và căn cứ định giá đối với tài sản có giá trị tương đương theo điểm d khoản 1.
Việc giải trình về mục tiêu chính sách chưa thay thế được tiêu chí pháp lý cụ thể để tòa án áp dụng thống nhất.
Đại biểu Dương Khắc Mai, nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện quy định
Theo đại biểu, nếu các tiêu chí này chưa được quy định rõ, nguy cơ thu hồi vượt quá phần tài sản cần xử lý vẫn có thể phát sinh. Vì vậy, cần thiết lập căn cứ pháp lý đủ cụ thể để cơ quan tiến hành tố tụng và tòa án có cơ sở đánh giá, xác định chính xác phạm vi tài sản thuộc diện xem xét thu hồi.
Đối với trường hợp và điều kiện áp dụng tại Điều 7, Điều 8, đại biểu ghi nhận báo cáo giải trình đã làm rõ việc xem xét khởi kiện phải đáp ứng các điều kiện của nghị quyết, gắn với trách nhiệm xác minh, thu thập chứng cứ của viện kiểm sát. Điều này đồng nghĩa với việc không phải cứ có quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ tố tụng hình sự thì tài sản liên quan đương nhiên bị thu hồi.
Tuy nhiên, theo đại biểu, các quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 8 hiện chủ yếu đề cập quyết định tố tụng, văn bản đề nghị cùng tài liệu, chứng cứ kèm theo. Do đó, cần bổ sung các điều kiện cụ thể về chứng cứ hợp pháp chứng minh mối liên hệ giữa tài sản và tội phạm; căn cứ xác định giá trị tài sản; chủ thể có quyền đối với tài sản; đồng thời xác định rõ trách nhiệm chứng minh yêu cầu thu hồi của viện kiểm sát trước tòa án.
Quy định về điều kiện áp dụng cần tự thể hiện được ngưỡng chứng minh tối thiểu, thay vì chỉ dựa vào nội dung giải trình hoặc những quy định nằm rải rác tại các điều khoản khác.
Đại biểu Dương Khắc Mai nhấn mạnh
Theo đó, việc không tiếp tục giải quyết vụ án hình sự không thể mặc nhiên được xem là căn cứ kết luận tài sản phải bị thu hồi. Cơ chế thu hồi tài sản không qua kết tội cần có những điều kiện riêng, rõ ràng, bảo đảm việc xem xét tài sản dựa trên chứng cứ và trình tự pháp luật, không đồng nhất với việc xác định trách nhiệm hình sự của một người.
Kiểm soát chặt việc phong tỏa tài sản
Một nội dung được đại biểu Dương Khắc Mai đặc biệt quan tâm là bảo vệ quyền của người thứ ba ngay tình, được đề cập tại khoản 3, khoản 4 Điều 4 và Điều 17 của dự thảo nghị quyết.

Đại biểu ghi nhận dự thảo đã có những quy định về bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp, quyền tham gia tố tụng của người có liên quan, đồng thời dẫn chiếu việc áp dụng Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 17 cũng quy định về việc tòa án thông báo thụ lý và tiếp nhận tài liệu, chứng cứ do người có liên quan cung cấp.
Tuy nhiên, đại biểu cho rằng cần làm rõ hơn cách xác định trường hợp người nhận tài sản “biết hoặc phải biết” về nguồn gốc tài sản theo khoản 4 Điều 4. Đồng thời, cần có cơ chế bảo vệ phù hợp đối với phần quyền sở hữu của đồng sở hữu và quyền của người nhận bảo đảm ngay tình.
Theo đại biểu, tòa án cần đánh giá các chứng cứ cụ thể về thời điểm nhận tài sản, tính chất giao dịch và khả năng nhận biết nguồn gốc tài sản của người liên quan. Việc xác định người nhận tài sản có biết hoặc phải biết hay không cần dựa trên các tình tiết và chứng cứ của từng trường hợp, “không suy đoán chỉ từ quan hệ thân nhân hoặc giao dịch với người bị buộc tội”.

Đề xuất này nhằm tránh ảnh hưởng đến những người không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng có quyền, lợi ích hợp pháp đối với tài sản bị yêu cầu thu hồi. Theo đại biểu, việc dẫn chiếu pháp luật dân sự là cần thiết, song chưa đủ để giải quyết tất cả tình huống phát sinh trong cơ chế đặc thù này. Vì vậy, các tiêu chí đánh giá chứng cứ và xác định quyền của người thứ ba cần được quy định cụ thể hơn.
Đối với việc phong tỏa, kê biên tài sản và kiểm soát thủ tục tại Điều 11, Điều 15, Điều 16, đại biểu ghi nhận dự thảo đã quy định trách nhiệm của viện kiểm sát, trình tự thủ tục và việc tòa án xem xét áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Dự thảo cũng đề cập trách nhiệm bồi thường khi áp dụng biện pháp không đúng.
Tuy nhiên, khoản 3 Điều 15 cho phép các biện pháp kê biên, phong tỏa trong vụ án hình sự tiếp tục được duy trì cho đến khi tòa án quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, nhưng chưa xác định giới hạn thời gian cụ thể cho giai đoạn chuyển tiếp này.
Đại biểu đề nghị quy định rõ thời hạn tòa án phải xem xét, cơ chế thông báo và quyền yêu cầu thay đổi, hủy bỏ biện pháp của người có tài sản; đồng thời bảo đảm giá trị tài sản bị phong tỏa tương xứng với giá trị dự kiến thu hồi.
Theo đại biểu, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền “xem xét ngay” chưa đủ để ngăn ngừa nguy cơ hạn chế quyền tài sản kéo dài, nhất là trong thời gian viện kiểm sát xác minh và quyết định khởi kiện theo Điều 16. Vì vậy, cần có thời hạn và cơ chế kiểm soát cụ thể để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên liên quan.